Công đức và phước đức là gì? Có khác nhau không?
Khi làm các Phật sự, chúng ta thường nghĩ là được nhiều công đức và
thường được tán dương đã làm được vô lượng công đức, cho nên cứ tiếp tục
làm hằng năm. Chúng ta hãy dành thời gian để tìm hiểu một vấn đề khá quan trọng, đó là: "Công Ðức và Phúc Ðức khác nhau thế nào?"
Ngày xưa, khi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa hoằng pháp, Ngài
đến gặp Vua Lương Võ Ðế. Trong lúc luận bàn đạo lý, nhà vua hỏi: "Trẫm
một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn
tống kinh sách, như vậy có được công đức gì chăng?". Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma
trả lời một cách rõ ràng rằng: "Những việc làm ấy thực không có công đức
gì cả!". Vấn đề này làm cho nhiều người thắc mắc, không biết tại làm
sao như vậy lại không có công đức gì cả? Bởi vì, theo lịch sử ghi chép
lại thì Vua Lương Võ Ðế xây cất hằng trăm ngôi chùa, độ tăng chúng tu
hành rất đông, thiết trai bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn
tống kinh sách nhiều vô số kể. Nhà vua suy nghĩ làm như vậy tức nhiên
được rất nhiều công đức, nhưng không ngờ khi đem vấn đề này ra hỏi, Tổ
Bồ Ðề Ðạt Ma trả lời: Không! Tại sao vậy? Có người không hiểu giáo lý
nên giải thích là: Vua Lương Võ Ðế không đích thân ra "công" thực hiện
những việc làm đó, chỉ sai người khác làm, nên không có "công đức" gì
cả! Thời gian sau đó, có người đem sự việc này thưa hỏi Lục Tổ Huệ Năng
và được Lục Tổ dạy như sau: Quả thực là không có công đức gì cả. Vua
Lương Võ Ðế vì không biết Chính Pháp, nên lầm lẫn hai chữ "Công Ðức" và
"Phúc Ðức"!
Nghĩa là cất hàng trăm ngôi chùa, độ tăng chúng tu
hành rất đông, thiết trai cúng dường, bố thí, đúc chuông, tạo tượng, ấn
tống kinh sách, chỉ là những việc làm "bên ngoài", có ích lợi cho mọi
người, những việc làm cầu phúc, nên gọi là phúc đức. Phúc đức có công
năng giúp chúng ta giảm thiểu nghiệp chướng, tiêu trừ quả báo, để được
tai qua nạn khỏi, để được may mắn và sung sướng trên đường đời, để bớt
chướng ngại trên đường đạo, chứ không giúp chúng ta thoát ly khỏi vòng
trầm luân sinh tử. Phúc đức có tính cách "hữu lậu" hay "hữu vi", nghĩa
là con người hưởng phúc vẫn còn trong lục đạo luân hồi. Khi thụ hưởng
hết phúc rồi thì bị đọa lạc để đền trả quả báo.
Còn công đức là
công phu tu tập "bên trong", có ích lợi cho chính mình, nhờ hành trì
theo lời Phật dạy trong các kinh điển, luôn luôn niệm Phật, giữ gìn giới
luật, tu tập thiền định, phát huy trí tuệ bát nhã. Nghĩa là chúng ta tu
tập tam vô lậu học "Giới Ðịnh Tuệ" và tam tuệ học "Văn Tư Tu", nhằm mục
đích cứu kính là: thoát ly khỏi lục đạo sinh tử luân hồi. Công đức có
năng lực giúp chúng ta vượt qua bể khổ sông mê, chóng đến bờ giác ngộ và
giải thoát. Công đức có tính cách "vô lậu" hay "vô vi", nghĩa là không
còn trong lục đạo sinh tử luân hồi nữa. Công đức giúp con người chuyển
hóa tâm tính từ phàm phu tục tử trở thành bồ tát, thành Phật. Chúng ta
làm những việc như lập chùa hay góp phần xây cất chùa, tham gia phát
triển chùa, phát huy các sinh hoạt, các hoạt động của chùa, của giáo
hội, giúp cho mọi người khác có được cơ sở để tu học, để hành đạo, giúp
cho Phật giáo có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, rộng rãi hơn, vững chắc
hơn, độ được nhiều người hữu duyên hơn nữa. Những việc làm này đem lại
lợi ích cho nhiều người như vậy, tất nhiên sẽ đem lại cho chúng ta thực
nhiều phúc đức.
Còn riêng bản thân mình thì không biết tu tâm
dưỡng tính, không học kinh điển, không biết trì giới, không tu tập thiền
định, không phát huy trí tuệ bát nhã, cho nên tất cả việc làm trên đây
chỉ là những việc làm bên ngoài, có ích lợi cho nhiều người, nhưng không
ích lợi cho bản thân mình về phương diện giác ngộ và giải thoát. Tại
sao vậy? Bởi vì, tâm tham lam, sân hận, si mê bên trong chẳng những
không giảm bớt mà lại có chiều hướng tăng thêm, vô minh phiền não không
tan biến chút nào mà lại có phần dầy đặc hơn. Vì chấp chặt mình đã làm
được bao nhiêu việc ích lợi như vậy, dễ có mấy ai làm được như mình, nên
tâm cống cao ngã mạn, phách lối ngày một tăng thêm, mục hạ vô nhân,
khen mình khinh người.
Những việc làm khác như góp phần ấn tống
kinh sách cho người khác đọc, còn mình thì không đọc, góp phần bố thí
cúng dường, giúp đỡ người hoạn nạn, nghèo khó, nhưng không hiểu ý nghĩa
cao cả của những việc làm đó, lại sinh tâm cầu mong được "trả công bội
hậu" ở cõi thiên đàng sau này. Tất cả những việc làm đó chỉ tạo nên phúc
đức mà thôi.
Thí dụ như có người bố thí cho nhà nghèo, hoặc
cúng chùa một số tiền nào đó, với tâm mong cầu được trúng số độc đắc,
được buôn may bán đắt, được nhất bản vạn lợi, được thi đâu đậu đó, được
gia đạo bình an, được tình duyên may mắn, được vạn sự bình yên, được
muôn sự như ý, muốn gì được nấy. Như vậy, lòng tham lam tăng thêm quá
mức thì "làm sao có công đức được!". Làm như vậy, chỉ có phúc đức hạn
chế theo số tiền đã bỏ ra mà thôi. Gieo nhân nhỏ thì chỉ nhận được quả
nhỏ, không thể khác được.
Nếu như bố thí, cúng dường mà tâm không
mong cầu gì cả, thi ân bất cầu báo đáp, cúng chùa để chùa có thêm phương
tiện sinh hoạt ích lợi cho mọi người, giúp người để cho người qua cơn
khó khăn, túng thiếu, không đắn đo, không suy nghĩ, không tính toán gì
thêm nữa, chúng ta sẽ bớt đi tâm tham lam, bỏn sẻn, tăng trưởng tứ vô
lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Như vậy, những việc làm đó vừa ích lợi cho
người, vừa ích lợi cho mình. Nghĩa là vừa được phúc đức vừa được công
đức.
Chúng ta hãy tinh tấn làm tất cả những việc thiện, rồi
quên hết đi, không chấp chặt vào đó, để kể lể công lao, hay mong cầu
phúc báo về sau, tâm cầu danh của chúng ta sẽ bớt đi, tâm chấp ngã cũng
nhẹ hơn trước, thì những việc làm đó vừa ích lợi cho người và cho mình,
tạo nên phúc đức và công đức vậy.
Trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn,
Ðức Phật có dạy: "Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý.
Thị chư Phật giáo". Nghĩa là chúng ta không làm tất cả các việc bất
thiện, không làm những việc ác, tránh những việc tổn người hại vật, cố
gắng làm tất cả những việc thiện, những việc ích lợi cho người khác,
nhưng đừng ghi nhớ, đừng chấp chặt vào những việc ích lợi đã làm, thì
tâm ý của chúng ta sẽ được thanh tịnh.
Ðó là tu tâm dưỡng tính,
đó là điều cốt yếu chư Phật mười phương ba đời muốn dạy như vậy. Thí dụ
chúng ta đã làm những việc ích lợi cho bất cứ ai mà chấp chặt vào đó
thì tâm của chúng ta sẽ bực dọc, bất an khi không được ai khen tặng hoặc
không được ai đáp ứng như ý. Nếu như quên đi những việc thiện đã làm,
giúp đỡ người với tâm "thi ân bất cầu báo đáp", thì chúng ta sẽ yên ổn,
bình an, tâm của chúng ta sẽ không loạn động, không bực bội khi gặp phải
người vô ơn.
Trong Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy
rằng: "Trong tâm khiêm tốn là công. Ngoài hành lễ phép là đức". Hay:
"Nội cần khắc niệm chi công. Ngoại hoằng bất tranh chi đức". Nghĩa là
"bên trong" chúng ta phải chuyên cần vận nội lực loại trừ những tâm niệm
kiêu ngạo, tật đố, ngã mạn, ganh tị, đố kỵ, khen mình khinh người, để
đạt được tâm niệm khiêm tốn, hạ mình, nhún nhường, tùy hỷ công đức.
Ðồng thời, chúng ta cũng phải vận nội công để khắc phục các tạp niệm,
để tâm không còn có các vọng tưởng. Mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi
lên, chúng ta liền giác ngộ, liền nhận biết và dừng ngay, không tiếp tục
theo dòng tâm thức, đi lang thang từ đông sang tây, từ quá khứ đến hiện
tại và vị lai, từ chuyện này đến chuyện khác. Như vậy chúng ta có được
"công".
Ðiều quan trọng cần biết là: chúng ta đừng sợ có vọng
tưởng, tạp niệm khởi lên trong tâm thức. Ai ai cũng có vọng tưởng và tạp
niệm. Chỉ sợ chúng ta không giác ngộ, không nhận biết kịp thời, nên bị
vọng tưởng, tạp niệm lôi cuốn, đi lang thang làm khách phong trần, quên
mất cố hương, từ bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp.
Khi dong ruổi
theo các vọng tưởng, tạp niệm như vậy, tâm của chúng ta sẽ loạn động với
thất tình lục dục, tức là quên mất "bản tâm thanh tịnh" sẵn có của
chúng ta.
Còn "bên ngoài" chúng ta thực hành lễ phép, cung kính, tôn
trọng tất cả mọi người, bởi vì mọi người ai ai cũng có "Chân Tâm Phật
Tính" như nhau, mọi người ai ai cũng có ưu điểm để chúng ta học hỏi, noi
theo, không phân biệt, không thành kiến, không kỳ thị, không tranh cãi,
không hơn thua, không thị phi, không ỷ mình là kẻ trên người trước, kẻ
có nhiều công lao, kẻ có nhiều tài năng, kẻ làm được nhiều việc không ai
bằng.
Như vậy chúng ta được nhiều người thương mến, gần gũi. Như vậy chúng ta có được "đức".
Thêm nữa, người Phật Tử muốn có công đức thì bên trong không có tâm
chấp ngã, tâm chấp pháp, nói chung là tâm cố chấp; bên ngoài hành động
luôn luôn ngay thẳng, bình đẳng, công minh, chính trực.
Hãy
phát tâm tìm học kinh điển, biết đúng Chính Pháp mà hành theo, tránh
chuyện tu mù, tu mò, để khỏi lạc sang tà giáo, ngoại đạo. Công đức là ở
"Pháp Thân", phát sinh trí tuệ bát nhã, không do tu phúc, không do làm
những việc phúc thiện mà được.
Chúng ta ngày nay cũng hay lầm
lẫn cho rằng lập chùa, giúp chư tăng tu học, bố thí, cúng dường, làm
Phật sự, đi chùa lạy Phật là được nhiều công đức và tự hào rằng mình làm
vô lượng vô biên công đức, cần phải được tán thán, rồi chờ đến ngày
được vãng sinh về cõi tây phương cực lạc quốc của Ðức Phật A Di Ðà!
Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật dạy rất rõ ràng cõi Tây phương cực lạc là
nơi chỉ có các bậc bồ tát "nhứt sinh bổ xứ", tức là các bực "thượng
thiện nhơn" sắp thành Phật, những người hiền thiện bậc thượng, gặp gỡ
nhau mà thôi.
Những người còn đầy dẫy tham sân si, đầy dẫy
nghiệp chướng, đầy dẫy phiền não thì nhứt định không thể nào đạt được
cảnh giới đó. Không thể chỉ lấy có một chút ít thiện căn phúc đức làm
nhân duyên, để cầu nguyện về cõi cực lạc đó được.
Ví như người
đeo nặng qua sông thì phải chìm, không thể nổi được. Chứ không phải Ðức
Phật A Di Ðà không có lòng từ bi cứu độ chúng ta.
Chư Phật có
tâm đại từ đại bi muốn cứu độ chúng ta, nên chỉ dạy các pháp môn tu học,
các phương pháp, để chúng ta noi theo đó mà tự mình tu tập, để tự được
cảnh giới an lạc và hạnh phúc hiện đời và vãng sinh mai sau.
Có
người quan niệm "đới nghiệp vãng sinh", nghĩa là con người vẫn còn mang
nghiệp chướng, nhưng nhờ biết niệm Phật A Di Ðà, nên được Ngài thương
xót cho vãng sinh về cõi tây phương cực lạc, rồi tu tiếp sướng hơn.
Ðiều này có vẻ "phe đảng" cũng như quan niệm cứ chấp nhận rước thượng
đế vào lòng thì sẽ được thượng đế cho về thiên đàng, hưởng phúc đời đời,
không cần biết đó là người như thế nào!
Thực ra, đạo Phật không có
dạy như vậy. Nếu thực sự muốn tu cho thành người tốt, thì chúng ta hãy
tu ngay ở cõi đời này, đừng hẹn. Còn mang nghiệp chướng nặng nề, tham
giận kiêu căng, si mê lầm lạc, nếu về tây phương, chỉ làm nơi đó ô uế mà
thôi.
Dù có được về bên đó chăng nữa, không thấy thích hợp, cũng sẽ đòi về trở lại mà thôi!
Sống với những người thế tục, chúng ta mới cần phải tu, mới có cơ hội
để tu. Chứ về bên đó gặp toàn người tốt thì đâu cần phải tu nữa.
Cũng như người còn nhiều phiền não quá, nhiều nghiệp chướng quá, dù có
được đưa vào chùa ở, mà không quyết tâm trì chí, cũng khó mà tu được, có
ngày cũng xuất, nếu không xuất thì sẽ gây biết bao nhiêu việc đáng tiếc
cho cảnh thiền môn!
Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật cũng dạy nếu
có thiện nam, thiện nữ nào nghe được danh hiệu Phật A Di Ðà, luôn luôn
trì giữ danh hiệu đó trong tâm trí, lúc nào cũng niệm Phật, nhớ nghĩ tới
Phật, trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày,
cho đến bảy ngày, đạt được tâm yên không loạn.
Khi thọ mệnh
hết, người như vậy giữ gìn được tâm không điên đảo, tức thời được vãng
sinh cõi nước tây phương cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà. Tại sao vậy?
Bởi vì khi tâm của người đó luôn luôn niệm Phật, không còn lăng xăng,
lộn xộn, không còn loạn động vì các việc đối đãi thị phi, hơn thua, tốt
xấu, cho nên cảm ứng được cảnh giới tịnh độ của Ðức Phật A Di Ðà vậy.
Nói cách khác, tâm của người đó thấy mọi sự đúng như thực, thấy mọi
việc không còn điên đảo, gọi là "tâm bất điên đảo", cho nên người đó
thấy được "Tự Tính Di Ðà, Duy Tâm Tịnh Ðộ".
Nghĩa là nhờ tâm
được thanh tịnh, bất loạn động, bất điên đảo, cho nên người đó thấy được
"Phật Tính", tức là "Pháp Vô Sinh", không còn sinh tử luân hồi, tức đắc
vãng sinh tây phương cực lạc.
Nếu còn nghiệp chướng nặng nề,
tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, nghĩa là tâm còn điên đảo, tâm còn
loạn động, làm sao vãng sinh được mà mong cầu!
Cõi tây phương
cực lạc hay cõi thiên đàng là cảnh giới "bất tùy phân biệt", bình đẳng
tuyệt đối, chí công vô tư, làm gì còn chia giai cấp có chín phẩm, ba
hạng, thượng trung hạ, như con người tưởng tượng cho thêm lộn xộn và
phức tạp! Không thể lấy tâm lượng phàm phu xét cảnh giới bồ tát!
Như vậy, cốt tủy của đạo Phật, không phải là van xin cầu nguyện, cúng
kiến lễ lạy cho nhiều, mà chính là lúc nào cũng nhớ nghĩ tới hạnh nguyện
của chư Phật, nói lời như Phật dạy, hành động như Phật dạy, luôn luôn
giữ gìn tâm ý thanh tịnh, bình an, yên tĩnh, không loạn động, không điên
đảo.
Ðược như vậy, tam nghiệp hằng thanh tịnh, chúng ta vừa có
phúc đức vừa có công đức đầy đủ, phúc tuệ trang nghiêm, tùy tâm mãn
nguyện. Kinh sách có câu: "Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật". Cứu
kính của đạo Phật chính là nghĩa đó vậy.
Trên thế gian này,
chung quanh chúng ta có đủ hạng người, có đủ loại người. Có người tạo
thuận cảnh dễ dãi, giúp đỡ chúng ta tu tập, cũng có người tạo nghịch
cảnh, gây phiền hà, khó khăn, khổ đau, để thử thách công phu tu tập của
chúng ta. Tất cả mọi người đều là thiện hữu tri thức của chúng ta cả.
Nếu ai ai cũng hiền thiện hết, không ai làm phiền mình hết, làm sao
biết chúng ta nhẫn nhịn được tới đâu? Ví như người học sinh đi học, được
thầy dạy cho kiến thức, được bạn bè giúp đỡ, rồi cũng cần có vị giám
khảo để kiểm tra trình độ, hạch hỏi, thử thách, nếu vượt qua được, mới
cấp văn bằng chứ.
Tóm lại, vì không biết rõ đâu là Chính Pháp,
cho nên chúng ta không thể thực hành lời Phật dạy, một cách tường tận,
một cách đúng đắn, để thoát ly sinh tử luân hồi, thoát ly phiền não và
khổ đau.
Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy: "Hãy tự thắp
đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chính Pháp". Nghĩa là mọi người phải tìm
hiểu, học hỏi Chính Pháp, đem ngọn đuốc trí tuệ của mình mồi với ngọn
đuốc trí tuệ Phật, bằng cách nghe giảng giáo lý, nghiên tầm kinh điển,
rồi tự suy nghĩ, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, giữ gìn giới luật,
tu tập thiền định, phát triển trí tuệ bát nhã.
Nhờ giữ gìn
giới luật nên tâm trí được thanh tịnh và trí tuệ bát nhã khai mở. Ðó
chính là tam vô lậu học "Giới Ðịnh Tuệ" và tam tuệ học "Văn Tư Tu", có
khả năng đưa chúng ta đến chỗ giác ngộ và giải thoát.
Kinh sách
có câu: "Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật". Nghĩa là chúng ta hãy
phát tâm bồ đề dũng mãnh, làm tất cả những việc tạo phúc đức trong các
dịp lễ thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên, và tất cả dịp nào tùy
duyên, tùy khả năng, tùy hoàn cảnh trong suốt năm, suốt đời.
Ðồng thời chúng ta cũng làm tất cả những việc tạo công đức như Văn Tư
Tu, Giới Ðịnh Tuệ, để phát triển trí tuệ bát nhã. Ðầy đủ "Phúc và Tuệ"
chúng ta sẽ sống trong an lạc và hạnh phúc hiện đời và về cõi Phật sau
này, không nghi. Cũng như con chim có đủ hai cánh sẽ bay thăng bằng và
bay được xa.
Có câu: "Ai ăn nấy no. Ai tu nấy chứng". Ðó là lẽ
công bằng tuyệt đối. Cũng vậy, thực rõ ràng "Mình làm mình hưởng. Mình
làm mình chịu".
Vì thế cho nên, ngay từ bây giờ, chúng ta hãy
phát tâm, tự thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của mình, thường xuyên về chùa
lạy Phật, nghe thuyết pháp, tham dự các khóa tu học bát quan trai giới,
để được học Phật Pháp một cách tường tận.
Trong bầu không khí
tu học đầy đạo vị, không phân biệt người mới phát tâm, hay người đã tham
gia tu học từ lâu, chúng ta cùng hướng dẫn nhau, nương tựa nhau, giúp
đỡ nhau, trên bước đường tu giác ngộ và giải thoát.
Ðược như vậy, chúng ta có "Công Ðức và Phúc Ðức", một cách viên mãn, một cách song toàn.
(Thích Chân Tuệ)
Nhất thiết hữu vi pháp - Như mộng huyễn bào ảnh - Như lộ, diệc như điện - Ưng tác như thị quán.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013
Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013
TÁM GIÓ THỔI KHÔNG ĐỘNG
“Bát phong xuy bất động” (tám gió thổi không động) là một giai thoại
vui, thâm thúy và tràn đầy thiền vị về mối thâm giao giữa thi hào Tô
Đông Pha (1037-1101) và Thiền sư Phật Ấn (1032-1098).
Chuyện kể rằng, một hôm Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ và ông rất hài lòng, bèn cho người đem tặng Thiền sư Phật Ấn lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn. Nguyên văn bài thơ của Tô Đông Pha như sau:
Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên.
Tạm dịch là :
Đảnh lễ Bậc Giác ngộ (thiên trung thiên tức là Phật, Bậc Giác ngộ)
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng.
Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ, thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá rõ bạn mình nhờ văn hay, chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy để làm thơ chứ không phải là bậc thượng sĩ thâm nhập nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, đạt đến Thượng thừa “Tám gió thổi không động” nên thay vì khen ngợi ngài liền cầm bút phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm- hạ phong) và bảo gia nhân đem về trình lại cho Đông Pha. Quả như điều mà Phật Ấn đã dự đoán. Đông Pha sau khi xem lời nhận xét của Phật Ấn xong liền đùng đùng nổi giận, lập lức bươn bả vượt sông sang chùa Kim Sơn để bắt tội Phật Ấn.
Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách: Bài thơ của tôi sai sót ở chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “đánh rắm” kia. Thiền sư Phật Ấn liền cười xuề: Ông nói “Tám gió thổi không động” mà chỉ một cái “đánh rắm” thôi đã bay sang sông rồi. Đến đây, Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.
Về bát phong hay bát thế phong, nghĩa là tám ngọn gió đời, tám pháp ở thế gian hay làm loạn động, mê hoặc lòng người. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, tập I, tr.414, tám ngọn gió ấy gồm:
1-Lợi (lợi lộc),
2-Suy (hao tổn),
3-Hủy (chê bai chỉ trích),
4-Dự (gián tiếp khen ngợi người),
5-Xưng (trực tiếp ca tụng người),
6-Cơ (dựng sự việc giả để nói xấu người),
7-Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh, thân tâm bị bức bách, khổ não),
8-Lạc (gặp được duyên tốt, thuận cảnh, thân tâm vui vẻ, hân hoan).
Con người thường giao động, thể hiện cảm xúc vui buồn rõ rệt trước những hoàn cảnh thuận nghịch của cuộc sống. Khi được lợi (lợi) thì vui mừng hớn hở, ngược lại khi bị mất mát, tổn hại (suy) thì buồn bã, tiếc nuối. Khi bị chê bai, chỉ trích (hủy) cảm thấy rất khó chịu nhưng khi được khen ngợi (dự) thì vui thích, hài lòng. Khi được mọi người xưng tán, tung hô (xưng) thì hả hê, ngất ngây hạnh phúc ngược lại khi bị chế diễu, vu khống (cơ) thì hậm hực, bức xúc không yên. Khi những điều không như ý ập đến (khổ) thì đau khổ, thở than và ngược lại khi mọi việc đều thuận lợi như ý (lạc) thì mừng rỡ, vui vẻ.
Cuộc sống của con người chẳng mấy khi được bình an, vì luôn bị tám ngọn gió này chi phối. Do vậy, muốn thiết lập hạnh phúc và an vui trong đời sống chúng ta phải giữ vững tâm ý khi tiếp xúc, đối diện với tám ngọn gió này. Đại thừa vô sanh phương tiện môn (Đại chính 85, 1247 hạ) chỉ rõ: “Nếu thân tâm vắng lặng an ổn thì tám gió thổi không động”. Cũng như chuyện “gió động hay phướn động”, thì ra tâm người động chứ gió và phướn chỉ là chuyện bên ngoài. Những giao động của tâm thức như là sóng nhưng bên dưới sự ầm ào đó là yên lặng. Phải quán sát liên tục để thấy rõ bản chất của tám ngọn gió đời ấy tuy thường xuyên thổi đến nhưng thực chất chỉ là ở bên ngoài, bởi vì mình đeo bám, bị dính mắc nên mới bị chúng chi phối. Mặt khác, bát phong vốn vô thường nên có đó rồi lại không đó. Vì thế, được hay mất, khen hay chê, đau khổ hay vui sướng cũng đều tương đối, không có gì trường cữu. Nhờ thường xuyên quán sát với trí tuệ như thế nên khi được cũng không quá mừng, lúc mất cũng không quá buồn, được khen không kiêu, bị chê không giận v.v… thì có thể chế ngự được bát phong. Sống vững chãi và thảnh thơi trong vô vàn biến động thuận nghịch của cuộc đời là điều có thể thực hiện được nhờ thực tập và thành tựu tuệ quán về ba sự thật Vô thường- Khổ-Vô ngã của vạn pháp.
Chuyện kể rằng, một hôm Tô Đông Pha sáng tác được một bài thơ và ông rất hài lòng, bèn cho người đem tặng Thiền sư Phật Ấn lúc bấy giờ đang ở chùa Kim Sơn. Nguyên văn bài thơ của Tô Đông Pha như sau:
Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên.
Tạm dịch là :
Đảnh lễ Bậc Giác ngộ (thiên trung thiên tức là Phật, Bậc Giác ngộ)
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng.
Phật Ấn xem qua bài thơ xưng tán cảnh giới giải thoát của Bậc Giác ngộ, thấy chữ nghĩa và ý tứ rất hay nhưng biết quá rõ bạn mình nhờ văn hay, chữ tốt, dùng tâm thức bén nhạy để làm thơ chứ không phải là bậc thượng sĩ thâm nhập nghĩa lý sâu xa của Phật pháp, đạt đến Thượng thừa “Tám gió thổi không động” nên thay vì khen ngợi ngài liền cầm bút phê vào hai chữ “phóng thí” (đánh rắm- hạ phong) và bảo gia nhân đem về trình lại cho Đông Pha. Quả như điều mà Phật Ấn đã dự đoán. Đông Pha sau khi xem lời nhận xét của Phật Ấn xong liền đùng đùng nổi giận, lập lức bươn bả vượt sông sang chùa Kim Sơn để bắt tội Phật Ấn.
Gặp nhau ở bến sông, Đông Pha liền lớn tiếng trách: Bài thơ của tôi sai sót ở chỗ nào mà ngài lại phê vào hai chữ “đánh rắm” kia. Thiền sư Phật Ấn liền cười xuề: Ông nói “Tám gió thổi không động” mà chỉ một cái “đánh rắm” thôi đã bay sang sông rồi. Đến đây, Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.
Về bát phong hay bát thế phong, nghĩa là tám ngọn gió đời, tám pháp ở thế gian hay làm loạn động, mê hoặc lòng người. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, tập I, tr.414, tám ngọn gió ấy gồm:
1-Lợi (lợi lộc),
2-Suy (hao tổn),
3-Hủy (chê bai chỉ trích),
4-Dự (gián tiếp khen ngợi người),
5-Xưng (trực tiếp ca tụng người),
6-Cơ (dựng sự việc giả để nói xấu người),
7-Khổ (gặp chướng duyên nghịch cảnh, thân tâm bị bức bách, khổ não),
8-Lạc (gặp được duyên tốt, thuận cảnh, thân tâm vui vẻ, hân hoan).
Con người thường giao động, thể hiện cảm xúc vui buồn rõ rệt trước những hoàn cảnh thuận nghịch của cuộc sống. Khi được lợi (lợi) thì vui mừng hớn hở, ngược lại khi bị mất mát, tổn hại (suy) thì buồn bã, tiếc nuối. Khi bị chê bai, chỉ trích (hủy) cảm thấy rất khó chịu nhưng khi được khen ngợi (dự) thì vui thích, hài lòng. Khi được mọi người xưng tán, tung hô (xưng) thì hả hê, ngất ngây hạnh phúc ngược lại khi bị chế diễu, vu khống (cơ) thì hậm hực, bức xúc không yên. Khi những điều không như ý ập đến (khổ) thì đau khổ, thở than và ngược lại khi mọi việc đều thuận lợi như ý (lạc) thì mừng rỡ, vui vẻ.
Cuộc sống của con người chẳng mấy khi được bình an, vì luôn bị tám ngọn gió này chi phối. Do vậy, muốn thiết lập hạnh phúc và an vui trong đời sống chúng ta phải giữ vững tâm ý khi tiếp xúc, đối diện với tám ngọn gió này. Đại thừa vô sanh phương tiện môn (Đại chính 85, 1247 hạ) chỉ rõ: “Nếu thân tâm vắng lặng an ổn thì tám gió thổi không động”. Cũng như chuyện “gió động hay phướn động”, thì ra tâm người động chứ gió và phướn chỉ là chuyện bên ngoài. Những giao động của tâm thức như là sóng nhưng bên dưới sự ầm ào đó là yên lặng. Phải quán sát liên tục để thấy rõ bản chất của tám ngọn gió đời ấy tuy thường xuyên thổi đến nhưng thực chất chỉ là ở bên ngoài, bởi vì mình đeo bám, bị dính mắc nên mới bị chúng chi phối. Mặt khác, bát phong vốn vô thường nên có đó rồi lại không đó. Vì thế, được hay mất, khen hay chê, đau khổ hay vui sướng cũng đều tương đối, không có gì trường cữu. Nhờ thường xuyên quán sát với trí tuệ như thế nên khi được cũng không quá mừng, lúc mất cũng không quá buồn, được khen không kiêu, bị chê không giận v.v… thì có thể chế ngự được bát phong. Sống vững chãi và thảnh thơi trong vô vàn biến động thuận nghịch của cuộc đời là điều có thể thực hiện được nhờ thực tập và thành tựu tuệ quán về ba sự thật Vô thường- Khổ-Vô ngã của vạn pháp.
(Sưu tầm)
Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013
Bà Già Đốt Am
Có bà lão nhiều
đạo tâm, cất ngôi tịnh am lo đầy đủ tứ sự cúng dường ủng hộ một vị sư tham thiền
tu niệm. Qua hai chục năm, một hôm bà lão dặn bảo cô con gái rằng:
- Bữa nay, sau khi
đem cơm cho sư thọ trai xong, con thừa lúc bất ngờ ôm ngay sư mà hỏi:
"Lúc này như thế nào?" Sư trả lời ra sao, con về đây thuật lại
cho mẹ rõ."
Cô con gái y như
lời, ôm sư gạn hỏi.
Sư đáp:
- Khô mộc ỷ hàn
nham, tam đông vô noãn khí.
Với câu này, ý sư
muốn bảo: "Mình chẳng mảy may động tâm về sắc dục, ví như cây khô nương tựa gộp
đá lạnh, lại ở vào ba tháng mùa đông, tìm một chút hơi ấm cũng không có."
Cô con gái trở vào
thuật lại, lão bà không vui, bảo:
- Thật uổng công
ta hai mươi năm lo lắng, không ngờ chỉ ủng hộ một kẻ phàm phu!"
Nói xong, lão bà
ra đuổi nhà sư đi, rồi châm lửa đốt luôn cái am.
Thật ra, tu đến
trình độ của sư, đời nay cũng ít có. Còn lão bà vốn một vị Bồ Tát, hành động đốt
am là muốn khai ngộ cho thiền sư. Tại sao thế? Bởi sư tuy không động tâm về sắc
dục, nhưng còn thấy mình thanh tịnh, còn trụ tâm nơi tướng vắng lặng không không
của thiền định, tức chưa được đại triệt đại ngộ. Để phân tích thêm cho rõ, thiền
môn có ba cửa ải phải vượt qua là: Bản Tham quan, Trùng quan và Lao quan. Người
tu thiền tham thoại đầu đến khi phá được nghi tình, tỏ suốt ý Tây-lai, nhìn rõ
mặt mày trước khi cha mẹ chưa sanh, tức đã vượt qua cửa ải thứ nhứt, gọi là "Phá
Bản Tham". Đến trình độ này, dù đã dứt được tưởng-tâm hư vọng từ vô thỉ, nhưng
còn cảnh giới năng sở đối đãi của quán trí, hãy còn chưa tuyệt tướng quên tình.
Cho nên tuy đã vô tâm cùng thế sự, nhưng đối với đại đạo vẫn cách một lớp cửa
dày dặn trập trùng. Cổ đức bảo:
Chớ gọi vô tâm
nguyên thật đạo.
Vô tâm còn cách
một trùng quan!
Chính là ý này.
Nhà sư trên tuy đã đạt đến cảnh giới khá cao, nhưng hãy còn trụ tâm nơi tịnh
tướng. Đây cũng là một sự tham nhiễm vi tế, mà người tu cần phải dứt trừ.
Người niệm Phật
cũng thế. Phải rõ tất cả sắc tướng đều như huyễn, dù tu đến cảnh giới nhứt tâm,
thấy hoa sen báu, các tướng tốt, hoặc chư Phật Bồ Tát hiện thân, nên biết đó
chẳng qua là do nhân lành cảm quả lành, cứ an nhiên đừng đắm nhiễm tham trước,
cũng không nên phủ nhận. Như vậy mới gọi là hiểu ngộ lý: "Như thật bất không"
của tạng tâm.
(Sưu tầm)
Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013
Sống trong phân thật là hạnh phúc!
Sống trong phân thật là hạnh phúc!
*********************
Nghiệp lực lôi chúng ta, khiến chúng ta thích những thứ mà cơ thể ta, tâm ta đòì hỏi. Chuyện chống tại nghiệp rất khó và không có mấy người đủ trí tuệ, nghị lực và quyết tâm để thay đổi nghiệp, quản lý nghiệp.
Và không chỉ vậy, ăn phân cũng thật là ngon và thích thú. Không gì trên đời này ngon hơn phân. Thưa các bạn, đó không phải là tuyên bố của tôi mà là của rất nhiều chúng sinh trên thế gian này!
Chuyện kể rằng, có 2 anh em nhà nọ cùng cha cùng mẹ nhưng mỗi người một tính, một nết. Người anh chăm chỉ tu hành, thanh lọc thân tâm, tinh tấn mỗi ngày. Còn người em thì lười biếng, không tin Phật pháp và chỉ mải ăn ngủ, chơi bời, lêu lổng.
Ngày từ giã cõi đời này, người anh được sinh thiên. Anh được tái sinh vào thiên đàng với cuộc sống tuyệt vời. Với khả năng của mình, người anh xuống trái đất tìm em nhưng không thấy. Anh xuống tìm khắp 9 tầng địa ngục cũng không thấy em mình đâu. Lại vào cõi ngạ quỷ cũng không hề có em trai mình. Cuối cùng anh đã phát hiện ra người em đã tái sinh vào kiếp mới là 1con giòi sống trong đống phân.
Người anh rất thương em, mong em tu tập tinh tấn và chuyển cõi. Với năng lực của mình người anh cố gắng thuyết phục em về cảnh trên cõi thiên, về cuộc sống trên thiên đàng. Rằng nơi đó rất tuyệt. Người em hỏi liệu trên cõi đó có phân không, có được chui lủi, ngụm lặn trong phân không. Người anh nói rằng, dĩ nhiên là không. Người em lại hỏi liệu trên đó thức ăn có là phân không. Câu trả lời của anh rằng dĩ nhiên không như vậy. Người em quả quyết rằng, nếu không được sống trong phân, không được ăn phân thì chẳng có gì thú vị cả và em không bao giờ lên đó.
Vì thương em, người anh cố gắng bắt con giòi để mang lên thiên đàng nhưng người em không chịu. Người em – con dòi quyết trườn khỏi tay anh để lao xuống đống phân, ngụp lặn trong phân. Người anh bắt hoài, bắt hòai, bắt bao lần nhưng em đều quyết trườn ra chạy thoát về bãi phân. Người anh ngán ngẩm, lắc đầu, bỏ đi.
Nghiệp lực trong kiếp người của người em quá mạnh đã biến em thành con giòi. Và đối với con giòi thì chỉ có phân là nhất. Không có gì ngon hơn! Không ở đâu sướng bằng!
Con người ta cũng vậy. Nghiệp lực kéo chúng ta mà chúng ta không chịu buông bỏ, cứ nhất quyết theo thói quen cũ. Uống rượu chỉ hại cho sức khỏe. Uống rượu làm ta không làm chủ được bản thân. Uống rượu làm ta mất hết tính người. Thế mà dù bao người khuyên ngăn, vẫn có bao người thích uống rượu, thậm chí nát rượu.
Tôi gõ những dòng chữ này khi vừa đi viếng đám tang cha của một người bạn. Ông say sưa rượu chè và bỏ mặc con cái cả chục năm nay. Ông say rượu để đánh chửi vợ con, gây gổ với bao người và rồi vợ con không chịu nổi nên phải phải ly dị. Bao năm nay ông sống với mẹ già hơn 90 tuổi. Ông chết với căn bệnh ung thư gan ở tuổi 48, cái tuổi lẽ ra đang sung sức nhất để cống hiến cho gia đình, cho xã hội, cho đời.
Có người lao vào kiếm tiền, bất chấp những mánh khóe và tội ác. Họ tưởng có tiền là có tất cả. Được gì chẳng biết nhưng nghiệp phải trả là cái chắc. Hơn nữa, nghiệp ác thời nay luôn hiện tiền ngay trong kiếp này. Tôi có bao người quen đã phải mất hết tất cả mặc dù có rất nhiều tiền.
Có người lúc đầu nói dối chơi chơi. Sau rồi thành quen. Cuối cùng nói cái gì cũng giả dối để chẳng ai tin. Mà họ đâu có biết rằng mình đang mê muội trong việc nói bậy đó. Nói dối thành quen, nói dối mỗi ngày mà họ không biết, không thấy cái hại của việc dối trá!
Chuyện rất nhỏ khác thôi là hút thuốc lá. Đa phần nhưng ai không hút thuốc (nhất là phụ nữ) thấy mùi thuốc lá rất khó chịu, thấy miệng của những người hút huốc rất hôi, thấy không khí quanh người hút thuốc rất ngột ngạt. Họ không thể tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra khi họ hút thuốc. Ấy vậy mà có bao người mê đắm thuốc lá, hút cả ngày. Cá biệt có người hút ngày đến 2 gói. Họ mê mẩn trong khói thuốc, sống không thể thiếu điếu thuốc. Và đối vối họ không gì quý hơn thuốc.
Lại có bạn nghiền café. Người không uống thì thấy café đắng, uống café vào thấy ruột gan bồn chồn và dĩ nhiên là mất ngủ. Vậy mà với dân nghiền cafe, ngày không có vài ly thì không chịu nổi. Thà nhịn ăn còn hơn không có café!
Nghiệp lực lôi chúng ta, khiến chúng ta thích những thứ mà cơ thể ta, tâm ta đòi hỏi. Chuyện chống lại nghiệp rất khó và không có mấy người đủ trí tuệ, nghị lực và quyết tâm để thay đổi nghiệp, quản lý nghiệp. Đức Phật, các vị A la hán, các vị thánh là những tấm gương sáng đã làm được điều kỳ diệu đó. Những tấm gương giúp chúng ta thay đổi số phận, thay đổi đời mình.
Liệu xung quanh bạn có ai đang sống trong bãi phân và thích ăn phân như con giòi trong câu chuyện tôi vừa kể. Tôi tin rằng bạn đã biết mình phải làm gì từ bây giờ!
(Nguyễn Mạnh Hùng)
*********************
Nghiệp lực lôi chúng ta, khiến chúng ta thích những thứ mà cơ thể ta, tâm ta đòì hỏi. Chuyện chống tại nghiệp rất khó và không có mấy người đủ trí tuệ, nghị lực và quyết tâm để thay đổi nghiệp, quản lý nghiệp.
Và không chỉ vậy, ăn phân cũng thật là ngon và thích thú. Không gì trên đời này ngon hơn phân. Thưa các bạn, đó không phải là tuyên bố của tôi mà là của rất nhiều chúng sinh trên thế gian này!
Chuyện kể rằng, có 2 anh em nhà nọ cùng cha cùng mẹ nhưng mỗi người một tính, một nết. Người anh chăm chỉ tu hành, thanh lọc thân tâm, tinh tấn mỗi ngày. Còn người em thì lười biếng, không tin Phật pháp và chỉ mải ăn ngủ, chơi bời, lêu lổng.
Ngày từ giã cõi đời này, người anh được sinh thiên. Anh được tái sinh vào thiên đàng với cuộc sống tuyệt vời. Với khả năng của mình, người anh xuống trái đất tìm em nhưng không thấy. Anh xuống tìm khắp 9 tầng địa ngục cũng không thấy em mình đâu. Lại vào cõi ngạ quỷ cũng không hề có em trai mình. Cuối cùng anh đã phát hiện ra người em đã tái sinh vào kiếp mới là 1con giòi sống trong đống phân.
Người anh rất thương em, mong em tu tập tinh tấn và chuyển cõi. Với năng lực của mình người anh cố gắng thuyết phục em về cảnh trên cõi thiên, về cuộc sống trên thiên đàng. Rằng nơi đó rất tuyệt. Người em hỏi liệu trên cõi đó có phân không, có được chui lủi, ngụm lặn trong phân không. Người anh nói rằng, dĩ nhiên là không. Người em lại hỏi liệu trên đó thức ăn có là phân không. Câu trả lời của anh rằng dĩ nhiên không như vậy. Người em quả quyết rằng, nếu không được sống trong phân, không được ăn phân thì chẳng có gì thú vị cả và em không bao giờ lên đó.
Vì thương em, người anh cố gắng bắt con giòi để mang lên thiên đàng nhưng người em không chịu. Người em – con dòi quyết trườn khỏi tay anh để lao xuống đống phân, ngụp lặn trong phân. Người anh bắt hoài, bắt hòai, bắt bao lần nhưng em đều quyết trườn ra chạy thoát về bãi phân. Người anh ngán ngẩm, lắc đầu, bỏ đi.
Nghiệp lực trong kiếp người của người em quá mạnh đã biến em thành con giòi. Và đối với con giòi thì chỉ có phân là nhất. Không có gì ngon hơn! Không ở đâu sướng bằng!
Con người ta cũng vậy. Nghiệp lực kéo chúng ta mà chúng ta không chịu buông bỏ, cứ nhất quyết theo thói quen cũ. Uống rượu chỉ hại cho sức khỏe. Uống rượu làm ta không làm chủ được bản thân. Uống rượu làm ta mất hết tính người. Thế mà dù bao người khuyên ngăn, vẫn có bao người thích uống rượu, thậm chí nát rượu.
Tôi gõ những dòng chữ này khi vừa đi viếng đám tang cha của một người bạn. Ông say sưa rượu chè và bỏ mặc con cái cả chục năm nay. Ông say rượu để đánh chửi vợ con, gây gổ với bao người và rồi vợ con không chịu nổi nên phải phải ly dị. Bao năm nay ông sống với mẹ già hơn 90 tuổi. Ông chết với căn bệnh ung thư gan ở tuổi 48, cái tuổi lẽ ra đang sung sức nhất để cống hiến cho gia đình, cho xã hội, cho đời.
Có người lao vào kiếm tiền, bất chấp những mánh khóe và tội ác. Họ tưởng có tiền là có tất cả. Được gì chẳng biết nhưng nghiệp phải trả là cái chắc. Hơn nữa, nghiệp ác thời nay luôn hiện tiền ngay trong kiếp này. Tôi có bao người quen đã phải mất hết tất cả mặc dù có rất nhiều tiền.
Có người lúc đầu nói dối chơi chơi. Sau rồi thành quen. Cuối cùng nói cái gì cũng giả dối để chẳng ai tin. Mà họ đâu có biết rằng mình đang mê muội trong việc nói bậy đó. Nói dối thành quen, nói dối mỗi ngày mà họ không biết, không thấy cái hại của việc dối trá!
Chuyện rất nhỏ khác thôi là hút thuốc lá. Đa phần nhưng ai không hút thuốc (nhất là phụ nữ) thấy mùi thuốc lá rất khó chịu, thấy miệng của những người hút huốc rất hôi, thấy không khí quanh người hút thuốc rất ngột ngạt. Họ không thể tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra khi họ hút thuốc. Ấy vậy mà có bao người mê đắm thuốc lá, hút cả ngày. Cá biệt có người hút ngày đến 2 gói. Họ mê mẩn trong khói thuốc, sống không thể thiếu điếu thuốc. Và đối vối họ không gì quý hơn thuốc.
Lại có bạn nghiền café. Người không uống thì thấy café đắng, uống café vào thấy ruột gan bồn chồn và dĩ nhiên là mất ngủ. Vậy mà với dân nghiền cafe, ngày không có vài ly thì không chịu nổi. Thà nhịn ăn còn hơn không có café!
Nghiệp lực lôi chúng ta, khiến chúng ta thích những thứ mà cơ thể ta, tâm ta đòi hỏi. Chuyện chống lại nghiệp rất khó và không có mấy người đủ trí tuệ, nghị lực và quyết tâm để thay đổi nghiệp, quản lý nghiệp. Đức Phật, các vị A la hán, các vị thánh là những tấm gương sáng đã làm được điều kỳ diệu đó. Những tấm gương giúp chúng ta thay đổi số phận, thay đổi đời mình.
Liệu xung quanh bạn có ai đang sống trong bãi phân và thích ăn phân như con giòi trong câu chuyện tôi vừa kể. Tôi tin rằng bạn đã biết mình phải làm gì từ bây giờ!
(Nguyễn Mạnh Hùng)
Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012
Tô Đông Pha và Thiền Sư Phật Ấn
Thiền sư Phật Ấn Với Tô Đông Pha
Tô Ðông Pha, quan Hàn Lâm học sĩ triều Tống, nổi tiếng là người học rộng nghe nhiều, tài hoa lỗi lạc. Ỷ tư chất thông minh, ông xem mọi người dưới tầm con mắt, thường làm những bài văn với tính cách trào lộng để mai mỉa tình đời. Ðối với đạo Phật, ông lại còn tỏ ra thái độ khinh rẻ, không tin, thẳng lời bài bác.
Một độ, nhân đi phó nhậm ở Chiết Giang, nghe danh sư Phật Ấn ở đỉnh Vân Cư là bậc học thông ba tạng, Tô Ðông Pha liền nảy ra ý định đến viếng cửa thiền, mục đích để trêu chọc lão Hòa Thượng này chơi. Ðến đây tôi xin tạm dừng câu chuyện thăm viếng ấy lại, để lược thuật cho quí vị biết tướng mạo và hành vi của vị tăng ở núi Vân Cư ra thế nào?
Phật Ấn thiền sư, vóc người cao lớn, mập mạp. Trên mặt ngài luôn luôn nở nụ cười, mỗi khi tiếp chuyện với khách. Về ngôn ngữ, Sư nói rất trôi chảy tài tình, khiến cho người đối thoại phải lặng thinh khâm phục. Sư có nhiều hành động khác thường, đến như rượu thịt là giới cấm trong nhà Phật, sư cũng không từ. Nhưng với bao nhiêu cử chỉ ấy, tất cả Tăng đồ và tín đồ thời bấy giờ không ai dám bài bác, và nhận thấy ở nơi sư có một cái gì siêu phàm hay làm cho người đời tỉnh ngộ, mà kẻ dung thường không thể bắt chước. Cho nên, hành vi khác lạ của sư được nhiều người ghi chép bằng nhiều bài thi, trong ấy có những câu:
"Viễn Công cô tửu yêu Ðào Lịnh, Phật Ấn thiêu trư đãi Tử chiêm" (Ngài Huệ Viễn mua rượu mời Ðào Uyên, minh sư Phật Ấn nướng thịt đãi Tô Tử Chiêm).
Ðây là hành vi của bậc đại triệt, đại ngộ, tùy cơ giáo hóa. Những vị tăng sĩ nào chưa được như thế, không nên khen ngợi bằng lối bắt chước, cũng đừng vội chê bai.
Xin tiếp tục câu chuyện trước. Khi Tô Ðông Pha đến non Vân, sư Phật Ấn còn đang ngồi tịnh trong phương trượng, nghe thị giả thưa:
-"Có quan Hàn Lâm học sĩ đến"
Sư vui vẻ chào hỏi và mời khách ngồi. Sau khi đáp lễ xong, Tô Ðông Pha liền mở lời vấn nạn:
- Bạch Hòa Thượng! Xin cho tôi hỏi một câu:
- Vâng, tôi cũng xin tùy chỗ hiểu biết để hầu chuyện cùng ngài.
- Bạch, tôi muốn mượn thân tứ đại của Hòa Thượng làm tòa ngồi, có được chăng?
Một nụ cười nở trên môi, Phật Ấn thiền sư đáp:
- Nếu bần đạo trả lời không suông, xin theo tôn ý, bằng trái lại, ngài sẽ tính thế nào?
- Tôi xin đem chiếc đai ngọc, một vật quí của vua ban cho, để đáp tạ Hòa Thượng.
- Bần đạo tứ đại vốn không, ngũ uẩn chẳng có, vậy ngài lấy chi làm tòa ngồi.
Tô Ðông Pha sửng sốt hồi lâu, không trả lời được, đành phải mở đai ngọc giao cho Phật Ấn thiền sư. Sư thâu nhận, rồi bảo thị giả vào trong đem chiếc áo bá nạp ra tặng cho quan Hàn Lâm học sĩ. Tô Ðông Pha gắng gượng tiếp lấy và làm bài kệ trình lên rằng:
Căn tối đành ngơ trước máy thần Nặng vì thân bịnh vướng đai cân! Muốn khuyên khất thực nhà ca kỹ? Nên mới nhường cho áo núi Vân.
Ðoạn, hai người cùng nhau tiếp chuyện rất thân mật.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Từ khi được gặp Phật Ấn thiền sư và sau mấy phen ngài chiết phục, Tô Ðông Pha trở nên bạn thân của vị Tăng phi thường ấy. Trong thời gian đó, ông lại được quen với một vị sư khác: ngài Hoành Sơn Cốc. Khi rảnh việc Tô Ðông Pha thường mời hai bạn đến nhà thết tiệc khoản đãi, hoặc cùng đi dạo ở những nơi thắng cảnh. Nhưng, trong ba người, chỉ có sư Phật Ấn là mạnh ăn nhất. Vì thế, Tô Ðông Pha, Hoành Sơn Cốc thường bị cụt hứng và thường chịu lép trong những cuộc vui.
Một hôm, Ðông Pha bảo người nhà sửa sang con thuyền và sắm sẵn gỏi ngon rượu tốt, rồi mời riêng Sơn Cốc thiền sư cùng mình mở cuộc lãng du trên dòng nước. Không dè ngài Phật Ấn hay được việc ấy, lén đến mé sông trước, và dở ván ngồi lẳng lặng dưới khoang thuyền. Sơn Cốc, Ðông Pha đến sau thờ ơ không hay biết chi cả, bảo trạo phu gay chèo để phát khởi cuộc du trình.
Lúc ấy nhằm ngày rằm. Hoàng hôn đã trở về từ lâu nên mặt sông thu yên tĩnh. Vào khoảng đầu hôm, chị Hằng lộ dáng đứng trên dãy non Ðông, như bàng hoàng giữa vầng Ngưu Ðẩu. Hàng cây bên bờ sông in bóng dài trên bãi cát. Một ngọn gió mát từ đâu thoảng lại, thổi phất phơ tà áo vị thiền sư trí tuệ và trang học sĩ tài hoa. Thuyền từ từ tách khỏi bến ra giữa lòng sông, thả suôi theo dòng nước. Ði không lâu, chiếc du thuyền rẽ vào một mặt hồ to rộng, bao la. Bấy giờ, những thức ăn uống được sắp bày trên thuyền, dưới gương nga tỏa sáng. Trước khi nhập tiệc, Ðông Pha bảo Sơn Cốc:
-"Chúng ta mỗi người hãy làm bốn câu thi tức cảnh, hai câu sau lấy trong sách Tứ thơ và kết cuộc bằng chữ "tai". Nếu ai làm không được phải bị phạt ba chén rượu. Và, bước đầu tôi xin nhường cho Ngài”.
Lộ vẻ tươi cười, thiền sư đáp:
-"Thế thì còn chi thú vị bằng! Tôi xin lĩnh ý".
Bấy giờ con thuyền đang từ từ rẽ nước. Cánh bèo theo gợn sóng tan ra, lộ dáng mấy con cá lội thấp thoáng. Sơn Cốc trông thấy liền ngâm:
Phù bình bác khai Du ngư xuất lai Ðắc kỳ sở tai! Ðắc kỳ sở tai!
(Bèo nổi tan ra, Dáng cá lội qua Phải cảnh nó a! Phải cảnh nó!).
Ðông Pha vỗ tay khen:
-"Hay! Hay lắm! Thật là tuyệt!"
Rồi, vẻ mặt trầm ngâm ông nhìn khắp chung quanh để tìm câu gợi tứ. Chợt trông lên trời thấy áng mây trắng bay qua để lộ màu thỏ bạc, ông liền đọc:
Phù vân bác khai Minh nguyệt xuất lai Thiên hà ngôn tai? Thiên hà ngôn tai?
(Mây nổi qua mau, Trăng tỏ lộ màu Trời nào nói đâu, Trời nào nói đâ?)
Sơn Cốc cũng vỗ tay khen:
-"Mấy câu vừa rồi ý nghĩa siêu thoát lắm! Không biết ngài có nhận được mùi thiền trong ấy chăng?”.
Ðông Pha không đáp, yên lặng tủm tỉm cười. Ðoạn, hai người cùng rót rượu để tán thưởng cho nhau và sắp sửa vào tiệc. Nhưng, Phật Ấn thiền sư đã dở ván, từ dưới khoang thuyền chun lên, vừa đọc lớn:
Phù bản bác khai Phật Ấn xuất lai Nhơn yên sưu tai? Nhơn yên sưu tai?
(Ván lót dở cao, Phất Ất ra mau Người giấu được nào? Người giấu được nào?).
Ðọc xong sư điềm nhiên ngồi chễm chệ trước tiệc, quơ đũa không mấy chốc, thức ăn đã hết sạch. Sơn Cốc và Ðông Pha dở khóc dở cười, nhìn nhau ngơ ngẩn.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Những việc trớ trêu tương tự như thế, thường xảy đến với Tô Ðông Pha, nhưng cũng do đấy, ông càng nghĩ càng khâm phục sư Phật Ấn.
Khách đa tài phần nhiều hay đa tình, Ðông Pha có bảy người thiếp rất đẹp. Một hôm, trong cơn đàm thoại, Phật Ấn thiền sư bảo ông rằng:
-"Tôi nghe ngài có nhiều thê thiếp, mà tôi lúc này thiếu người hầu hạ, không biết ngài có vui lòng cho tôi mượn một nàng không?"
Ðông Pha cười nói:
-"Hòa Thượng đã muốn, tôi đâu dám chẳng vâng lời".
Sau khi về đến nhà Ðông Pha cho gọi thiếp thứ bảy ra bảo:
-"Hôm nay, Phật Ấn thiền sư hỏi tôi mượn một cô hầu. Vậy nàng hãy sửa soạn để đi đến chùa cho sớm".
Người thiếp tỏ vẻ không bằng lòng, thưa:
-"Ông ấy đã tu hành, sao còn nói gở như thế?"
Ðông Pha bảo:
-"Người quân tử đã hứa, tất phải nhớ lời. Nàng nên vì tôi chịu phiền đi đến xem Hòa Thượng sử sự ra sao?"
Khi người thiếp đến chùa, Phật Ấn thiền sư ra tiếp, đưa vào cho an nghỉ một phòng. Ðoạn, sư bắt bảy cái lò gần đấy, quạt lửa than cháy đỏ rồi suốt đêm bước qua bước lại trên lò. Sáng ra, thiền sư bảo xa phu gác xe đưa mỹ nhân trở về. Sau khi về đến nhà, người thiếp thuật rõ lại hành vi của sư Phật Ấn trong đêm vừa qua. Ðông Pha nghe xong, thầm nghĩ:
-"Ðây chắc là thiền sư ngụ ý bảo: ta có bảy nàng hầu như bảy lò lửa, hành vi bước qua có phải tỏ rằng mình đã thoát khỏi vòng ái dục rồi chăng?"
Nghĩ đến đó, ông dường như tỉnh ngộ.
Về sau, do sự hóa độ của Phật Ấn thiền sư, Tô Ðông Pha lần lần hồi tâm trở về với đạo Phật. Khi lớn tuổi, ông mướn thợ vẽ một bức tượng A Di Ðà, đi đâu thường mang theo mình. Có ai hỏi, ông đáp:
-"Bức tượng này là công cứ của tôi đấy".
Giữa Phật Ấn và Ðông Pha còn lắm đoạn kỳ quan. Theo lời truyền thuyết ở các sách tàu, Tô Ðông Pha là thân sau của giới thiền sư, cũng là bạn đồng tu học của vị tăng núi Vân Cư từ kiếp trước. Trong tiền thân Phật Ấn thiền sư đã đắc đạo. Ngài tái sanh làm vị tăng với mục đích nhắc nhở người bạn tiền duyên trở lại con đường giác ngộ. Ðiều này, nên tin hay không ở đây không thành vấn đề bàn luận. Chúng ta chỉ nên biết rằng hành vi của ngài Phật Ấn không những có ý nghĩa với Tô Ðông Pha, mà với tất cả bao nhiêu người đồng tâm trạng, cảnh ngộ như ông.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Một hôm, Tô Ðông Pha sáng tác được một bài thi mà ông rất hài lòng, ông bèn cho đem tặng Phật Ấn thiền sư ở chùa Kim Sơn. Thay cho lời khen mà ông Tô Ðông Pha mong ước, thiền sư lại phê hai chữ "phóng thí" (*) Ức lòng, Tô Ðông Pha bương bả vượt sông đến Kim Sơn bắt lỗi. Thiền sư lấy bút sửa câu chót, làm cho Tô Ðông Pha dở khóc dở cười.
Nguyên văn bài thi của tô Ðông Pha như sau:
Khể thủ thiên trung thiên.
Hào quang chiếu đại thiên.
Bát phong xuy bất động.
Ðoan tọa tử Kim liên.
Làm để xưng tụng Ðức Phật, bài thi ấy thật rất hay, nhưng thiền sư biết tác giả chỉ là người múa văn, chơi chữ, chứ không phải người thâm nhập Phật lý đến mức thực chứng cảnh giải thoát "Bát phong xuy bất động", nên thiền sư phê hai chữ "phóng thí" để trêu. Quả như thiền sư tiên liệu: Tô Ðông Pha đã nổi nóng, vượt sông đến hỏi. Nhưng sau khi thấy thiền sư sửa câu chót thành "phóng thí đã quá giang", Tô Ðông Pha hổ thẹn vì đã để cho một cái "Lỡ trôn đánh bay ngang sông". Ðông Pha bái phục ra về, không nói được một lời... (**)
Tám gió (bát phong) là chỉ những cái ưa ghét của người đời, hễ một trong những cái ấy đến thì lòng người bị xao xuyến, như gió thổi nước lay. Tám gió ấy là:
1. Lợi, 2. Suy (tổn thất), 3. Hủy (chê), 4. Dự (khen), 5. Xưng (phong tặng), 6. Cơ (nói xấu), 7. Khổ (cay đắng), 8. Lạc (vui).
"Rồi đây nguyện được như lời Thuyền từ một chiếc thảnh thơi giữa dòng Hỡi những ai còn trong bể khổ Hãy nương thuyền tế độ mà qua Bến mê vượt khỏi ái hà Lên bờ giải thoát mới là an vui..."
* Thí: có nghĩa là lỡ trôn nếu nói theo trong Nam, hay trung tiện nói theo Bắc, Trung.
** Bài thi của Tô Ðông Pha có nghĩa: Cúi đầu làm lễ Thần của các vị Thần mà ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới, là đấng mà "tám gió" thổi không lay và đang ngồi trên hoa sen vàng tía.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người đối nhau luận Thiền, Đông Pha hỏi Phật Ấn:
- Ngài thấy tôi thế nào?
Phật Ấn đáp:
- Rất trang nghiêm, giống một ông Phật!
Tô Đông Pha nghe nói vô cùng phấn khởi. Phật Ấn lại hỏi Tô Đông Pha:
- Ông thấy ta ra sao?
Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay:
- Giống một đống phân bò!
Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội:
- Này muội muội, hồi nào tới giờ anh bị Ấn lão cho đo ván mãi, đấu không lại ông ta. Không biết hôm nay Hòa thượng trở cờ hay học sĩ này gặp may mà Ấn lão không còn lời để nói, không có lý để trình đấy.
Nói rồi bèn thuật lại chuyện luận chiến vừa qua. Tô tiểu muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng, nghe ca ca kể xong câu chuyện, liền nói:
- Xì, anh thua đậm rồi!
Đông Pha tức quá mắng :
- Ta làm sao lại thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói một lời nào?
Tô tiểu muội nói:
- Này ca ca, tôi xin hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý?
Đông Pha nói:
- Đương nhiên là Phật quý rồi!
Tô tiểu muội nói:
- Phật là Ấn lão thấy, còn phân bò là anh thấy, thế có phải là anh bị đánh úp không? Ấn lão đắc thắng hoàn toàn, còn gì để nói nữa!
Đông Pha nghe tiểu muội nói thế, như bong bóng xì hơi, biết rằng bị rơi vào tròng của Phật Ấn, thua một keo nặng.
CHUYỆN CHUYỂN KIẾP CỦA TÔ ĐÔNG PHA VÀ THIỀN SƯ PHẬT ẤN
Tô Ðông Pha, quan Hàn Lâm học sĩ triều Tống, nổi tiếng là người học rộng nghe nhiều, tài hoa lỗi lạc. Ỷ tư chất thông minh, ông xem mọi người dưới tầm con mắt, thường làm những bài văn với tính cách trào lộng để mai mỉa tình đời. Ðối với đạo Phật, ông lại còn tỏ ra thái độ khinh rẻ, không tin, thẳng lời bài bác.
Một độ, nhân đi phó nhậm ở Chiết Giang, nghe danh sư Phật Ấn ở đỉnh Vân Cư là bậc học thông ba tạng, Tô Ðông Pha liền nảy ra ý định đến viếng cửa thiền, mục đích để trêu chọc lão Hòa Thượng này chơi. Ðến đây tôi xin tạm dừng câu chuyện thăm viếng ấy lại, để lược thuật cho quí vị biết tướng mạo và hành vi của vị tăng ở núi Vân Cư ra thế nào?
Phật Ấn thiền sư, vóc người cao lớn, mập mạp. Trên mặt ngài luôn luôn nở nụ cười, mỗi khi tiếp chuyện với khách. Về ngôn ngữ, Sư nói rất trôi chảy tài tình, khiến cho người đối thoại phải lặng thinh khâm phục. Sư có nhiều hành động khác thường, đến như rượu thịt là giới cấm trong nhà Phật, sư cũng không từ. Nhưng với bao nhiêu cử chỉ ấy, tất cả Tăng đồ và tín đồ thời bấy giờ không ai dám bài bác, và nhận thấy ở nơi sư có một cái gì siêu phàm hay làm cho người đời tỉnh ngộ, mà kẻ dung thường không thể bắt chước. Cho nên, hành vi khác lạ của sư được nhiều người ghi chép bằng nhiều bài thi, trong ấy có những câu:
"Viễn Công cô tửu yêu Ðào Lịnh, Phật Ấn thiêu trư đãi Tử chiêm" (Ngài Huệ Viễn mua rượu mời Ðào Uyên, minh sư Phật Ấn nướng thịt đãi Tô Tử Chiêm).
Ðây là hành vi của bậc đại triệt, đại ngộ, tùy cơ giáo hóa. Những vị tăng sĩ nào chưa được như thế, không nên khen ngợi bằng lối bắt chước, cũng đừng vội chê bai.
Xin tiếp tục câu chuyện trước. Khi Tô Ðông Pha đến non Vân, sư Phật Ấn còn đang ngồi tịnh trong phương trượng, nghe thị giả thưa:
-"Có quan Hàn Lâm học sĩ đến"
Sư vui vẻ chào hỏi và mời khách ngồi. Sau khi đáp lễ xong, Tô Ðông Pha liền mở lời vấn nạn:
- Bạch Hòa Thượng! Xin cho tôi hỏi một câu:
- Vâng, tôi cũng xin tùy chỗ hiểu biết để hầu chuyện cùng ngài.
- Bạch, tôi muốn mượn thân tứ đại của Hòa Thượng làm tòa ngồi, có được chăng?
Một nụ cười nở trên môi, Phật Ấn thiền sư đáp:
- Nếu bần đạo trả lời không suông, xin theo tôn ý, bằng trái lại, ngài sẽ tính thế nào?
- Tôi xin đem chiếc đai ngọc, một vật quí của vua ban cho, để đáp tạ Hòa Thượng.
- Bần đạo tứ đại vốn không, ngũ uẩn chẳng có, vậy ngài lấy chi làm tòa ngồi.
Tô Ðông Pha sửng sốt hồi lâu, không trả lời được, đành phải mở đai ngọc giao cho Phật Ấn thiền sư. Sư thâu nhận, rồi bảo thị giả vào trong đem chiếc áo bá nạp ra tặng cho quan Hàn Lâm học sĩ. Tô Ðông Pha gắng gượng tiếp lấy và làm bài kệ trình lên rằng:
Căn tối đành ngơ trước máy thần Nặng vì thân bịnh vướng đai cân! Muốn khuyên khất thực nhà ca kỹ? Nên mới nhường cho áo núi Vân.
Ðoạn, hai người cùng nhau tiếp chuyện rất thân mật.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Từ khi được gặp Phật Ấn thiền sư và sau mấy phen ngài chiết phục, Tô Ðông Pha trở nên bạn thân của vị Tăng phi thường ấy. Trong thời gian đó, ông lại được quen với một vị sư khác: ngài Hoành Sơn Cốc. Khi rảnh việc Tô Ðông Pha thường mời hai bạn đến nhà thết tiệc khoản đãi, hoặc cùng đi dạo ở những nơi thắng cảnh. Nhưng, trong ba người, chỉ có sư Phật Ấn là mạnh ăn nhất. Vì thế, Tô Ðông Pha, Hoành Sơn Cốc thường bị cụt hứng và thường chịu lép trong những cuộc vui.
Một hôm, Ðông Pha bảo người nhà sửa sang con thuyền và sắm sẵn gỏi ngon rượu tốt, rồi mời riêng Sơn Cốc thiền sư cùng mình mở cuộc lãng du trên dòng nước. Không dè ngài Phật Ấn hay được việc ấy, lén đến mé sông trước, và dở ván ngồi lẳng lặng dưới khoang thuyền. Sơn Cốc, Ðông Pha đến sau thờ ơ không hay biết chi cả, bảo trạo phu gay chèo để phát khởi cuộc du trình.
Lúc ấy nhằm ngày rằm. Hoàng hôn đã trở về từ lâu nên mặt sông thu yên tĩnh. Vào khoảng đầu hôm, chị Hằng lộ dáng đứng trên dãy non Ðông, như bàng hoàng giữa vầng Ngưu Ðẩu. Hàng cây bên bờ sông in bóng dài trên bãi cát. Một ngọn gió mát từ đâu thoảng lại, thổi phất phơ tà áo vị thiền sư trí tuệ và trang học sĩ tài hoa. Thuyền từ từ tách khỏi bến ra giữa lòng sông, thả suôi theo dòng nước. Ði không lâu, chiếc du thuyền rẽ vào một mặt hồ to rộng, bao la. Bấy giờ, những thức ăn uống được sắp bày trên thuyền, dưới gương nga tỏa sáng. Trước khi nhập tiệc, Ðông Pha bảo Sơn Cốc:
-"Chúng ta mỗi người hãy làm bốn câu thi tức cảnh, hai câu sau lấy trong sách Tứ thơ và kết cuộc bằng chữ "tai". Nếu ai làm không được phải bị phạt ba chén rượu. Và, bước đầu tôi xin nhường cho Ngài”.
Lộ vẻ tươi cười, thiền sư đáp:
-"Thế thì còn chi thú vị bằng! Tôi xin lĩnh ý".
Bấy giờ con thuyền đang từ từ rẽ nước. Cánh bèo theo gợn sóng tan ra, lộ dáng mấy con cá lội thấp thoáng. Sơn Cốc trông thấy liền ngâm:
Phù bình bác khai Du ngư xuất lai Ðắc kỳ sở tai! Ðắc kỳ sở tai!
(Bèo nổi tan ra, Dáng cá lội qua Phải cảnh nó a! Phải cảnh nó!).
Ðông Pha vỗ tay khen:
-"Hay! Hay lắm! Thật là tuyệt!"
Rồi, vẻ mặt trầm ngâm ông nhìn khắp chung quanh để tìm câu gợi tứ. Chợt trông lên trời thấy áng mây trắng bay qua để lộ màu thỏ bạc, ông liền đọc:
Phù vân bác khai Minh nguyệt xuất lai Thiên hà ngôn tai? Thiên hà ngôn tai?
(Mây nổi qua mau, Trăng tỏ lộ màu Trời nào nói đâu, Trời nào nói đâ?)
Sơn Cốc cũng vỗ tay khen:
-"Mấy câu vừa rồi ý nghĩa siêu thoát lắm! Không biết ngài có nhận được mùi thiền trong ấy chăng?”.
Ðông Pha không đáp, yên lặng tủm tỉm cười. Ðoạn, hai người cùng rót rượu để tán thưởng cho nhau và sắp sửa vào tiệc. Nhưng, Phật Ấn thiền sư đã dở ván, từ dưới khoang thuyền chun lên, vừa đọc lớn:
Phù bản bác khai Phật Ấn xuất lai Nhơn yên sưu tai? Nhơn yên sưu tai?
(Ván lót dở cao, Phất Ất ra mau Người giấu được nào? Người giấu được nào?).
Ðọc xong sư điềm nhiên ngồi chễm chệ trước tiệc, quơ đũa không mấy chốc, thức ăn đã hết sạch. Sơn Cốc và Ðông Pha dở khóc dở cười, nhìn nhau ngơ ngẩn.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Những việc trớ trêu tương tự như thế, thường xảy đến với Tô Ðông Pha, nhưng cũng do đấy, ông càng nghĩ càng khâm phục sư Phật Ấn.
Khách đa tài phần nhiều hay đa tình, Ðông Pha có bảy người thiếp rất đẹp. Một hôm, trong cơn đàm thoại, Phật Ấn thiền sư bảo ông rằng:
-"Tôi nghe ngài có nhiều thê thiếp, mà tôi lúc này thiếu người hầu hạ, không biết ngài có vui lòng cho tôi mượn một nàng không?"
Ðông Pha cười nói:
-"Hòa Thượng đã muốn, tôi đâu dám chẳng vâng lời".
Sau khi về đến nhà Ðông Pha cho gọi thiếp thứ bảy ra bảo:
-"Hôm nay, Phật Ấn thiền sư hỏi tôi mượn một cô hầu. Vậy nàng hãy sửa soạn để đi đến chùa cho sớm".
Người thiếp tỏ vẻ không bằng lòng, thưa:
-"Ông ấy đã tu hành, sao còn nói gở như thế?"
Ðông Pha bảo:
-"Người quân tử đã hứa, tất phải nhớ lời. Nàng nên vì tôi chịu phiền đi đến xem Hòa Thượng sử sự ra sao?"
Khi người thiếp đến chùa, Phật Ấn thiền sư ra tiếp, đưa vào cho an nghỉ một phòng. Ðoạn, sư bắt bảy cái lò gần đấy, quạt lửa than cháy đỏ rồi suốt đêm bước qua bước lại trên lò. Sáng ra, thiền sư bảo xa phu gác xe đưa mỹ nhân trở về. Sau khi về đến nhà, người thiếp thuật rõ lại hành vi của sư Phật Ấn trong đêm vừa qua. Ðông Pha nghe xong, thầm nghĩ:
-"Ðây chắc là thiền sư ngụ ý bảo: ta có bảy nàng hầu như bảy lò lửa, hành vi bước qua có phải tỏ rằng mình đã thoát khỏi vòng ái dục rồi chăng?"
Nghĩ đến đó, ông dường như tỉnh ngộ.
Về sau, do sự hóa độ của Phật Ấn thiền sư, Tô Ðông Pha lần lần hồi tâm trở về với đạo Phật. Khi lớn tuổi, ông mướn thợ vẽ một bức tượng A Di Ðà, đi đâu thường mang theo mình. Có ai hỏi, ông đáp:
-"Bức tượng này là công cứ của tôi đấy".
Giữa Phật Ấn và Ðông Pha còn lắm đoạn kỳ quan. Theo lời truyền thuyết ở các sách tàu, Tô Ðông Pha là thân sau của giới thiền sư, cũng là bạn đồng tu học của vị tăng núi Vân Cư từ kiếp trước. Trong tiền thân Phật Ấn thiền sư đã đắc đạo. Ngài tái sanh làm vị tăng với mục đích nhắc nhở người bạn tiền duyên trở lại con đường giác ngộ. Ðiều này, nên tin hay không ở đây không thành vấn đề bàn luận. Chúng ta chỉ nên biết rằng hành vi của ngài Phật Ấn không những có ý nghĩa với Tô Ðông Pha, mà với tất cả bao nhiêu người đồng tâm trạng, cảnh ngộ như ông.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Một hôm, Tô Ðông Pha sáng tác được một bài thi mà ông rất hài lòng, ông bèn cho đem tặng Phật Ấn thiền sư ở chùa Kim Sơn. Thay cho lời khen mà ông Tô Ðông Pha mong ước, thiền sư lại phê hai chữ "phóng thí" (*) Ức lòng, Tô Ðông Pha bương bả vượt sông đến Kim Sơn bắt lỗi. Thiền sư lấy bút sửa câu chót, làm cho Tô Ðông Pha dở khóc dở cười.
Nguyên văn bài thi của tô Ðông Pha như sau:
Khể thủ thiên trung thiên.
Hào quang chiếu đại thiên.
Bát phong xuy bất động.
Ðoan tọa tử Kim liên.
Làm để xưng tụng Ðức Phật, bài thi ấy thật rất hay, nhưng thiền sư biết tác giả chỉ là người múa văn, chơi chữ, chứ không phải người thâm nhập Phật lý đến mức thực chứng cảnh giải thoát "Bát phong xuy bất động", nên thiền sư phê hai chữ "phóng thí" để trêu. Quả như thiền sư tiên liệu: Tô Ðông Pha đã nổi nóng, vượt sông đến hỏi. Nhưng sau khi thấy thiền sư sửa câu chót thành "phóng thí đã quá giang", Tô Ðông Pha hổ thẹn vì đã để cho một cái "Lỡ trôn đánh bay ngang sông". Ðông Pha bái phục ra về, không nói được một lời... (**)
Tám gió (bát phong) là chỉ những cái ưa ghét của người đời, hễ một trong những cái ấy đến thì lòng người bị xao xuyến, như gió thổi nước lay. Tám gió ấy là:
1. Lợi, 2. Suy (tổn thất), 3. Hủy (chê), 4. Dự (khen), 5. Xưng (phong tặng), 6. Cơ (nói xấu), 7. Khổ (cay đắng), 8. Lạc (vui).
"Rồi đây nguyện được như lời Thuyền từ một chiếc thảnh thơi giữa dòng Hỡi những ai còn trong bể khổ Hãy nương thuyền tế độ mà qua Bến mê vượt khỏi ái hà Lên bờ giải thoát mới là an vui..."
* Thí: có nghĩa là lỡ trôn nếu nói theo trong Nam, hay trung tiện nói theo Bắc, Trung.
** Bài thi của Tô Ðông Pha có nghĩa: Cúi đầu làm lễ Thần của các vị Thần mà ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới, là đấng mà "tám gió" thổi không lay và đang ngồi trên hoa sen vàng tía.
CÂU CHUYỆN KHÁC
Một hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn chơi với Thiền sư Phật Ấn cả ngày. Hai người đối nhau luận Thiền, Đông Pha hỏi Phật Ấn:
- Ngài thấy tôi thế nào?
Phật Ấn đáp:
- Rất trang nghiêm, giống một ông Phật!
Tô Đông Pha nghe nói vô cùng phấn khởi. Phật Ấn lại hỏi Tô Đông Pha:
- Ông thấy ta ra sao?
Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay:
- Giống một đống phân bò!
Phật Ấn không nói gì. Đông Pha cho rằng mình đã thắng một keo, lòng rất sung sướng, về nhà hớn hở nói với Tô tiểu muội:
- Này muội muội, hồi nào tới giờ anh bị Ấn lão cho đo ván mãi, đấu không lại ông ta. Không biết hôm nay Hòa thượng trở cờ hay học sĩ này gặp may mà Ấn lão không còn lời để nói, không có lý để trình đấy.
Nói rồi bèn thuật lại chuyện luận chiến vừa qua. Tô tiểu muội thiên tư hơn người, tài hoa xuất chúng, nghe ca ca kể xong câu chuyện, liền nói:
- Xì, anh thua đậm rồi!
Đông Pha tức quá mắng :
- Ta làm sao lại thua? Nếu ta thua sao ông ấy không nói một lời nào?
Tô tiểu muội nói:
- Này ca ca, tôi xin hỏi anh, Phật quý hay phân bò quý?
Đông Pha nói:
- Đương nhiên là Phật quý rồi!
Tô tiểu muội nói:
- Phật là Ấn lão thấy, còn phân bò là anh thấy, thế có phải là anh bị đánh úp không? Ấn lão đắc thắng hoàn toàn, còn gì để nói nữa!
Đông Pha nghe tiểu muội nói thế, như bong bóng xì hơi, biết rằng bị rơi vào tròng của Phật Ấn, thua một keo nặng.
CHUYỆN CHUYỂN KIẾP CỦA TÔ ĐÔNG PHA VÀ THIỀN SƯ PHẬT ẤN
Vọng
tưởng có hai phần: thô và tế. Vọng tưởng thô ai cũng biết, bởi hành tướng
nó rất rõ ràng. Còn vọng tưởng vi tế, người tu già dặn cũng phải e ngại.
Người
mới tu, chỉ có thể nhận biết được các vọng tưởng thô, khó lòng phát hiện
được các vọng tưởng vi tế. Ví như một ao nước đục, khi bọt nổi lên mặt ao
ta mới nhận thấy. Còn phần bọt nhỏ nhẹ từ dưới đáy ao, muốn thấy rõ nó,
cần phải có một ao nước thật trong. Người tu hành lâu (thiền định hay các
pháp môn khác), đến trình độ nước tâm trong lặng mới thấy biết được vọng
tưởng vi tế.
Bạch
Thánh pháp sư, một buổi sáng từ nơi giường bước lại ghế ngồi, trong khoảng
chừng ba giây đồng hồ, đã phát giác trong tâm mình nổi lên đến vài mươi
vọng niệm sai biệt. Chừng ấy ngài mới chứng minh được lời nói trong kinh:
"Một niệm có chín mươi sát na, một sát na có chín trăm sanh diệt." Đây là
vọng tưởng thuộc loại vi tế.
Quang
Huệ và Giới Diễn là hai vị thiền sư đều ngộ Đạo. Một hôm trong khi đồng
ngồi thiền, nơi tiềm thức của ngài Giới Diễn thoạt nổi lên một niệm sắc
ái, ngài liền diệt trừ; song bên kia Quang Huệ thiền sư đã hay biết. Sau
khi xuất định, ngài Quang Huệ làm bài kệ có ý trêu cợt ngài Giới Diễn.
Giới Diễn thiền sư buồn thẹn, liền thâu thần nhập diệt.
Ngài
Quang Huệ hối hận, gọi đệ tử đến phó chúc rằng: "Bạn ta trong khi thiền
định có một niệm sắc ái, sau tất lụy về sắc; vì phiền ta mà thị tịch, sau
sẽ phá hoại Tăng bảo. Lỗi ấy một phần do ở nơi ta, nếu ta không theo hóa
độ, tất sẽ mang lấy hậu quả!"
Dặn dò
xong, ngài cũng viên tịch theo luôn. Sau, Quang Huệ chuyển thân làm thiền
sư Phật Ấn; Giới Diễn chuyển kiếp làm Tô Đông Pha. Đông Pha do kiếp trước
có tu nên làm quan to trong triều, thông minh trí tuệ mà cũng đa tài đa
tình. Ông có đến bảy người thiếp, và thường đem sự thông minh bác lãm của
mình mà vấn nạn các vị thiền sư. Về sau Tô Đông Pha bị ngài Phật Ấn chiết
phục, ông mới quay lại đường tu.
Cho nên
vọng tưởng vi tế, người tu lâu cũng phải e ngại là thế. Tiên đức có câu:
Công phu không thiếu cũng không dư,Muôn kiếp tham si chữa dễ trừ!
Vậy
người tu khi có chút cảnh giới tốt chớ vội khoe khoang tự đắc, phải nhìn
gương ngài Giới Diễn; và cũng đừng vội tự thị chê bai kẻ khác, mà phải xem
gương Quang Huệ thiền sư.
(Sưu tầm)
Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012
Chuyện cổ Phật gia: Bồ Đề Đạt Ma
Bồ Đề Đạt Ma
Bồ Đề Đạt Ma sinh ra trong một gia đình đạo Bà La Môn ở miền Nam Ấn Độ. Ông tính tình rất vui vẻ, thông minh và có ngộ tính hơn người. Ông đã đem hết tâm sức trong việc nghiên cứu Phật giáo Đại thừa.
Ông đến Quảng Châu vào năm thứ 8 của Putong (527) vào thời hoàng đế Lương Vũ Đế. Hoàng đế Vũ đế gửi công sứ để chào mừng ông đến Jinling (ngày nay là Nanjiang).
Hoàng đế Vũ Đế đã hỏi ông: “Sau khi tôi lên ngôi, tôi đã xây không biết bao chùa chiền và cung cấp nơi ở cho các thầy tu. Tôi đã tích tạo công trạng nhiều bao nhiêu?”
Bồ Đề Đạt Ma đã trả lời: “Không có công trạng.”
Hoàng đế lại hỏi ông tại sao. Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Đó là bởi vì sự thiếu sót. Mặc dù nó trông có vẻ ông có công trạng, nhưng nó không phải thật.”
Hoàng đế hỏi tiếp: “Vậy thì công trạng thật sự là gi?” Bồ Đề Đạt Ma đáp: “Sống mà không có lo lắng và không có suy nghĩ gì trong tâm. Loại công trạng này không thể có được bằng cách làm việc tốt ở trong thế tục này”.
Hoàng đế lại hỏi: “Shengde có nghĩa là gì?”
Bồ Đề Đạt Ma nói: “Khi một người có ràng buộc, thì không có Phật Pháp.”
Bồ Đề Đạt Ma đã rời Lương. Ông đã dùng một cọng lau để vượt sông Dương Tử và đã đi đến miền Nam của Ngụy. Rồi ông đi đến Lạc Dương (tại tỉnh Hà Nam) và đã tu luyện tại chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn. Ông đã thiền định trong suốt 9 năm. Sau khi chết, ông được chôn tại núi Xioner.
Khi Songyun quay trở lại miền Tây vì công việc ngoại giao, ông đã nhìn thấy Bồ Đề Đạt Ma cầm một chiếc giày đi bộ một mình tại Congling. Khi Songyun hỏi ông ta rằng ông đang đi đâu, Bồ Đề Đạt Ma bảo rằng ông đang đến thiền đàng phía Tây. Ông cũng đã bảo Songyun: “Hoàng đế của chúng ta đang chán đời.” Songyun đã không biết ông nói có ý nghĩa gì. Khi ông trở lại thành đô, ông phát hiện ra rằng hoàng đế Ming đã chết và hoàng đế Xiao Xhuang đã lên nối ngôi. Songyun đã bảo hoàng đế rằng ông đã gặp Bồ Đề Đạt Ma trên đường về. Vì thế hoàng đế lấy làm lạ bèn ra lệnh mở nắp hòm của Bồ Đề Đạt Ma, thì chỉ tìm thấy một chiếc giày trong quan tài mà thôi.
Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012
Ba Câu Hỏi Của Ðức Vua
Ba Câu Hỏi Của Ðức Vua
Thuở xưa có một vị vua thuộc vào hành minh quân, thương dân như con đẻ. Nhưng dù là minh quân, Ngài vẫn không sao tránh được một ít lỗi lầm đáng tiếc.
Lúc tuổi đã cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu Ngài được các bậc hiền tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc sau đây thì có lẽ Ngài tránh được rất nhiều khuyết điểm. Ðó là những nghi vấn sau:
1. Thời gian nào quan trọng nhất của một công việc?
2. Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
3. Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?
Ðức vua cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp các thị trấn, làng mạc và hứa sẽ trọng thưởng cho người nào có lời giải đáp khôn ngoan nhất.
Bố cáo vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt, thạc học minh triết lũ lượt kéo nhau về kinh thành. Mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình phải thành lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực, suốt hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên sai vạn biệt thành một vài trường phái nhất trí và dâng lên đức vua - vị chánh chủ khảo tối cao của cả nước.
Ðáp lại câu hỏi đầu tiên có người bảo rằng: Muốn biết thời gian nào quan trọng nhất của một công việc, người ta phải thiết lập chương trình kế hoạch, thời dụng biểu hẳn hoi. Xong ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo từng thời điểm đã qui định sẵn đó... Nhưng ý kiến ấy liền bị nhà vua bác bỏ vì không ai có thể tiên đoán những điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu sẵn, công việc đòi hỏi phải linh động mới được. Có trường phái lại cho rằng: Một người không thể khôn ngoan hơn tập thể. Ðức vua nên thành lập một nội các gồm nhiều đại biểu để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và làm theo quyết định chung. Một trường phái khác lại đề nghị đức vua cần thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước khi thực thi một công việc...
Như thế đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng: Thời gian quan trọng nhất của công việc là thời gian chuẩn bị nghĩ suy về công việc ấy.
Về câu hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau: Thượng đế, đức vua, quan tể tướng, các giáo sĩ, bốc sư... được đề nghị là những nhân vật quan trọng nhất.
Câu hỏi thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương tự - công việc nào phải được xem là quan trọng nhất? Thưa đó là việc nước, việc nhà, việc ăn, việc mặc, học hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự hay là tôn giáo? Các đề mục đều được các khối óc khôn ngoan tinh tế nhất đề cập đến...
Và vị chánh chủ khảo - tức là đức vua ấy không chấp nhận câu giải đáp nào cả...
Nhiều năm trôi qua... ba câu hỏi rơi dần vào quên lãng... cho đến một hôm, nhà vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ đầy mây nọ có vị đạo sĩ được coi là bậc giác ngộ, nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao tiếp với các nhà quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ khiến nhà vua để ý và một hôm ngài quyết định cải dạng thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.
Ðến nơi nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào và nêu lên ba câu hỏi. Ðạo sĩ chỉ mỉm cười đưa tay vỗ nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công chuyện. Ðã được báo trước về tánh khí lạ lùng của đạo sĩ, đức vua không nản lòng, ngồi xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay trao cuốc cho vua làm giúp. Nhiều giờ trôi qua đức vua vẫn xới đất, còn đạo sĩ thì nhổ cỏ quanh quẩn bên am tranh. Khi đôi tay vương giả bắt đầu chai phồng đức vua ngừng cuốc, nghỉ một giây lâu và nói với đạo sĩ:
- Tôi từ xa lặn lội đến đây cầu thầy chỉ giáo cho ba điều nghi vấn. Nếu thầy biết xin vui lòng chỉ dẫn cho, bằng không cũng xin cho biết để tôi trở về kẻo tối. Ðạo sĩ mỉm cười định nói câu gì đó thì chợt cả hai người cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức vua:
- Bác xem có ai đến kìa!
Nhà vua quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất, toàn thân nhuộm máu. Hai người già không ai bảo ai, đều hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân chỉ còn thoi thóp thở. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các vết thương. Hai người im lặng làm việc cho đến lúc ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở đỉnh núi bên kia.
Ðưa nạn nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng tre độc nhất của căn lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng luộc và vì quá mệt đức vua ngã mình xuống nền đất thiếp đi.
Sáng hôm sau khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm hồng chiếc thảo am và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải bàng hoàng hồi lâu mới rõ mình đang ở đâu và làm gì... Ðạo sĩ đã đi làm vườn sau khi đặt một rổ khoai luộc bên cạnh ông khách.
Trên chõng tre nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng cặp mắt long lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một bàn tay lên vầng trán nóng như lửa của anh ta và cất tiếng thăm hỏi bệnh tình. Nạn nhân bỗng òa lên khóc:
- Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần...
Vô cùng ngạc nhiên đức vua bảo:
- Khanh là ai mà lại biết trẫm?
- Bệ hạ không biết thần đâu. Hạ thần chính là em trai của võ tướng Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề trước linh cửu của anh là sẽ giết bệ hạ để báo thú. Biết bệ hạ lên núi này thần mai phục sẵn. Không ngờ đợi đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi, thần liền đi tìm... và bị chợt chân té xuống triền núi. Nếu không nhờ bệ hạ ra tay cứu chữa thì có lẽ thần đã mất mạng. Từ đây oan cừu xin giải hết... Thần cúi mong bệ hạ tha tội chết cho hạ thần.
- Câu chuyện đáng tiếc năm xưa đã làm ta hối tiếc khôn nguôi, nhưng việc đã dĩ lỡ rồi, trẫm không biết tính sao. Bây giờ chẳng những trẫm tha lỗi cho khanh, mà trẫm còn phục hồi chức tước và chu cấp cho gia đình Trần Ðoàn nữa. Khanh hãy yên tâm mà tịnh dưỡng đi.
Ðức vua ra hiệu gọi vệ sĩ đến, cho khiêng nạn nhân xuống núi và vời ngự y tới để chăm sóc vết thương. Sắp xếp đâu đó xong xuôi, vua đi tìm đạo sĩ. Nhà tu đang lúi húi trồng rau trên vạtn đất mới cuốc hôm qua. Ðức vua ngỏ ý cáo từ và lập lại ba câu hỏi::
- Xin đạo sĩ giải đáp cho...
Nhà tu mỉm cười:
- Bần đạo đã trả lời cho bệ hạ rồi đó. Ðức vua ngạc nhiên:
- Hồi nào đâu?
- Ngay lúc bệ hạ vừa nêu câu hỏi.
- ???
- Này nhé “thời gian nào là thời gian quan trọng nhất” đó là lúc bệ hạ cuốc đất giúp cho bần đạo, nếu thiếu khoảng thời gian này thì bệ hạ đã bị chết về tay anh chàng kia rồi nhé. “Nhân vật quan trọng nhất” chích là bần đạo đây, quan trọng đến nỗi bệ hạ phải trèo non lội suối đi tìm có phải không? Và câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất?” Thưa đó là cuốc đất, việc mà hai chúng ta đã làm ngày qua...
Rồi sau đó, khi chàng thanh niên xuất hiện, anh ta biến thành nhân vật quan trọng nhất, công việc cần thiết nhất là cấp cứu cho anh ta và thời gian cứu chữa là thời gian quan trọng nhất. Có phải thế không nào?
Nhà vua cúi đầu ngẫm nghĩ giây lâu, cất tiếng:
- Thưa đạo sĩ, trẫm đã hiểu. Thời gian quan trọng nhất là thời gian hiện tại. Nhân vật cần thiết nhất là người mà ta cần gặp gỡ trong hiện tại và công việc khẩn thiết nhất cũng là công việc trong hiện tại. Quá khứ là những điều đã qua rồi vĩnh viễn, vị lai chỉ là những ảo tưởng mơ hồ... chỉ có khoảng khắc ngắn ngủi trong hiện tại là giúp đỡ người chung quanh ngay trước mắt ta trong cái giây phút ngắn ngủi quý báu đó. Thưa có phải thế không ạ?
Ðạo sĩ mỉm cười và nụ cười đó thay lời tống biệt đưa nhà vua xuống núi, nơi mà triều đình và thần dân đang đón chờ ngài.
“Việc qua rồi chẳng nhớ
Việc chưa đến đừng lo
Việc hiện tại chớ đem lòng vọng tưởng.”
Lời dạy này cũng đồng nghĩa với câu giải đáp của đạo sĩ trên. Nếu chỉ sống với giây phút hiện tiền, thì dù ta đang gánh nước, bữa củi, uống trà, mặc áo, ăn cơm... tất cả những chuyện tầm thường nhất, không hành vi nào mà không phải là đạo.
Những điều thú vị của câu chuyện trên là lời giải đáp cho câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất.” Thưa đó là giúp đỡ những người chung quanh ta, cũng ngay trong hiện tại.
Trong cuộc sống hàng ngày mãi lo ngong ngóng đến tương lai, chúng ta thường bỏ quên hiện tại. Có lẽ vì mãi nghĩ đến những chúng sanh mà mình sẽ độ sau này (khi đã thành Phật hay Bồ tát chính hiệu), nên em không thấy được rá rau của người bạn tri nhật đang hối hả lặt cho kịp giờ cơm, quên luôn nền nhà đầy rác đang cần quét, chiếc ly uống nước đầy cáu bẩn v.v...
Tương lai đã che khuất em không thấy được những người bạn đồng tu của mình đang nhễ nhại mồ hôi, đầu tắt mặt tối vì công việc... và điều này khi nói ra e làm em bất bình, nhưng tôi xin chân thành xin lỗi em trước, cũng như tôi đã sám hối và ân hận mãi vì đã có một thời tôi và em, những người mãi miết lo nghĩ đến tương lai đã biến chuyện tu hành của mình thành một gánh nặng cho bè bạn. Và chúng ta đã đặt tên cho những hành động lạ lùng đó bằng các danh từ thật kêu như “hạ thủ công phu,” “giải quyết sinh tử,” “miên mật tu hành.” Hỡi ơi, nếu trong hiện tại chúng ta nhẫn tâm lợi dụng sức lao động của bạn bè mình, để làm bàn đạp tiến thân, tiến đến quả vị Phật tổ là những quả vị không còn dấu vết của bản ngã (và những phụ tùng của nó là tham, sân, si). Chúng ta thản nhiên nhắm mắt làm ngơ trước những công việc cần thiết cấp bách cho mình và cho người chung quanh để chỉ lo thực hiện cho kỳ được những hoài vọng do cái bản ngã đa sự của chính mình, với một lời hứa hẹn trấn an lương tâm là: “Chừng nào mình hoát nhiên đại ngộ hay thành Phật chẳng hạn, tôi sẽ độ cho quý vị hết trơn hết trọi.” Và chúng ta sẽ nhắn nhủ thầm rằng: “Còn bây giờ quý vị nên làm công quả cho tui, chuyện tu hành khó khăn lắm, cần phải có những căn cơ siêu việt mới có thể đảm đương được (như tui đây chẳng hạn)... chừng nào cuộc thí nghiệm của tôi thành công, công lao của quý vị sẽ được đền bù gấp trăm, gấp nghìn lần.”
Em thân mến!
Trong kinh Kim Cang, Ngài Tu Bồ Ðề có hỏi Phật rằng:
- Những người thiện nam hay thiện nữ khi đã phát tâm vô thượng bồ đề rồi thì làm sao hàng phục được tâm mình?
Ngài đã đại diện cho chúng ta nêu lên cái nguyện vọng, nỗi băn khoăn nghìn đời là “làm thế nào để con được thành Phật?” Câu trả lời của đấng đạo sư đã khiến ta bối rối hết sức:
- Con nên độ cho hết thảy chúng sinh vào vô dư niết bàn mà không thấy có một chúng sinh nào được diệt độ.
Câu đáp trở thành khó hiểu khi chúng ta ngỡ rằng “thành Phật tức là thành một đấng gì đó” cao hơn hết thảy chúng sinh, một “khối” gì đó... chẳng hạn. Còn nếu chúng ta chỉ hiểu một cách giản dị rằng: Phật chính là sự giác ngộ. Thành Phật tức là thành một chúng sinh giác ngộ - nhưng giác ngộ cái gì mới được chứ. Thưa, giác ngộ rằng “bản ngã” không thật bền, không có...
Nỗi bận tâm duy nhất và tha thiết nhất của chúng ta là cái bản ngã của chính mình. Từ lâu chúng ta mê mải tìm cầu ngũ dục cho nó hưởng thọ... Không ngờ cái dư vị của ngũ dục quá đắng cay khiến chúng ta đâm hoảng... Và thay vì say mê tham đắm ngũ dục, chúng ta lại xoay qua mê tu tham đắm niết bàn giải thoát. Ðối tượng có thay đổi, nhưng lòng tham lam tính toán vẫn còn đó... Ngày xưa chúng ta bon chen, thủ lợi, giành giựt ngũ dục ra sao thì bây giờ ta cũng tính toán để tóm cho bằng được Niết bàn hay quả vị Phật hệt như vậy.
Thế nên, nếu Ðức Phật đưa ra một đường lối, một phương pháp để đạt... Niết bàn thì chúng ta sẽ chịu lắm. Ta sẽ sẵn sàng hy sinh tất cả... để giật cho được cái Niết bàn lè lẹ kẻo thiên hạ phỏng tay trên hết. Vì thế câu trả lời của Ðức Từ phụ đã làm chúng ta chưng hửng và thất vọng biết bao! Hỏi làm cách nào để được giải thoát. Ngài lại bảo: “Hãy lo độ sanh đi, tức khắc tâm con được an, tâm an tức được giải thoát.”
Bàn về huyền nghĩa của kinh Kim Cang chúng ta có đến hằng khối kinh luận sớ và sao, giảng giải... Thế nên nơi đây tôi không dám bàn thêm. Tôi chỉ xin kể cho em nghe về chuyện thiền sư Triệu Châu, một Tổ sư Trung Hoa cũng có một câu đáp “lãng quẻ” tương tự.
Có một bà lão đến hỏi sư. “Già này mang thân đàn bà ô uế, bị đủ thứ ràng buộc... làm sao để thoát thân nữ?”
Sư đáp:
- Bà hãy phát tâm nguyện như thế này: Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thân tướng trang nghiêm của đại trượng phu, còn riêng thân tiện tỳ này thì vĩnh kiếp trầm luân nơi địa ngục.
Lão tử cũng có câu tương tự:
- Những ai muốn đứng trước thiên hạ thì hãy đặt mình đứng sau thiên hạ.
Và cũng có lẽ vì thế mà Ðại thừa Phật giáo đã không tiếc lời ca ngợi hạnh nguyện Bồ tát chăng? Xin mở một ngoặc đơn (chúng sanh: là người tìm đủ mọi cách để thỏa mãn tham vọng của riêng mình. Bồ tát: là người giác ngộ được chút đỉnh, nên dù vẫn thiết tha cầu Phật đạo mà vẫn không bỏ việc lợi sanh, nhưng Bồ tát không có phụng sự cho dục vọng của chúng sanh đâu nghen!) Em nghĩ sao? Ư nhữ ý vân hà? Nếu những lời lẽ trên đây có làm em khó chịu thì tôi xin cáo lỗi và xác định lại: Ðây chỉ là lời lải nhải, độc thoại tự nhủ của một người hơn là ngỏ cùng độc giả vậy.
Thuở xưa có một vị vua thuộc vào hành minh quân, thương dân như con đẻ. Nhưng dù là minh quân, Ngài vẫn không sao tránh được một ít lỗi lầm đáng tiếc.
Lúc tuổi đã cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu Ngài được các bậc hiền tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc sau đây thì có lẽ Ngài tránh được rất nhiều khuyết điểm. Ðó là những nghi vấn sau:
1. Thời gian nào quan trọng nhất của một công việc?
2. Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
3. Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?
Ðức vua cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp các thị trấn, làng mạc và hứa sẽ trọng thưởng cho người nào có lời giải đáp khôn ngoan nhất.
Bố cáo vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt, thạc học minh triết lũ lượt kéo nhau về kinh thành. Mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình phải thành lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực, suốt hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên sai vạn biệt thành một vài trường phái nhất trí và dâng lên đức vua - vị chánh chủ khảo tối cao của cả nước.
Ðáp lại câu hỏi đầu tiên có người bảo rằng: Muốn biết thời gian nào quan trọng nhất của một công việc, người ta phải thiết lập chương trình kế hoạch, thời dụng biểu hẳn hoi. Xong ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo từng thời điểm đã qui định sẵn đó... Nhưng ý kiến ấy liền bị nhà vua bác bỏ vì không ai có thể tiên đoán những điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu sẵn, công việc đòi hỏi phải linh động mới được. Có trường phái lại cho rằng: Một người không thể khôn ngoan hơn tập thể. Ðức vua nên thành lập một nội các gồm nhiều đại biểu để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và làm theo quyết định chung. Một trường phái khác lại đề nghị đức vua cần thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước khi thực thi một công việc...
Như thế đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng: Thời gian quan trọng nhất của công việc là thời gian chuẩn bị nghĩ suy về công việc ấy.
Về câu hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau: Thượng đế, đức vua, quan tể tướng, các giáo sĩ, bốc sư... được đề nghị là những nhân vật quan trọng nhất.
Câu hỏi thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương tự - công việc nào phải được xem là quan trọng nhất? Thưa đó là việc nước, việc nhà, việc ăn, việc mặc, học hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự hay là tôn giáo? Các đề mục đều được các khối óc khôn ngoan tinh tế nhất đề cập đến...
Và vị chánh chủ khảo - tức là đức vua ấy không chấp nhận câu giải đáp nào cả...
Nhiều năm trôi qua... ba câu hỏi rơi dần vào quên lãng... cho đến một hôm, nhà vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ đầy mây nọ có vị đạo sĩ được coi là bậc giác ngộ, nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao tiếp với các nhà quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ khiến nhà vua để ý và một hôm ngài quyết định cải dạng thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.
Ðến nơi nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào và nêu lên ba câu hỏi. Ðạo sĩ chỉ mỉm cười đưa tay vỗ nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công chuyện. Ðã được báo trước về tánh khí lạ lùng của đạo sĩ, đức vua không nản lòng, ngồi xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay trao cuốc cho vua làm giúp. Nhiều giờ trôi qua đức vua vẫn xới đất, còn đạo sĩ thì nhổ cỏ quanh quẩn bên am tranh. Khi đôi tay vương giả bắt đầu chai phồng đức vua ngừng cuốc, nghỉ một giây lâu và nói với đạo sĩ:
- Tôi từ xa lặn lội đến đây cầu thầy chỉ giáo cho ba điều nghi vấn. Nếu thầy biết xin vui lòng chỉ dẫn cho, bằng không cũng xin cho biết để tôi trở về kẻo tối. Ðạo sĩ mỉm cười định nói câu gì đó thì chợt cả hai người cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức vua:
- Bác xem có ai đến kìa!
Nhà vua quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất, toàn thân nhuộm máu. Hai người già không ai bảo ai, đều hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân chỉ còn thoi thóp thở. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các vết thương. Hai người im lặng làm việc cho đến lúc ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở đỉnh núi bên kia.
Ðưa nạn nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng tre độc nhất của căn lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng luộc và vì quá mệt đức vua ngã mình xuống nền đất thiếp đi.
Sáng hôm sau khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm hồng chiếc thảo am và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải bàng hoàng hồi lâu mới rõ mình đang ở đâu và làm gì... Ðạo sĩ đã đi làm vườn sau khi đặt một rổ khoai luộc bên cạnh ông khách.
Trên chõng tre nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng cặp mắt long lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một bàn tay lên vầng trán nóng như lửa của anh ta và cất tiếng thăm hỏi bệnh tình. Nạn nhân bỗng òa lên khóc:
- Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần...
Vô cùng ngạc nhiên đức vua bảo:
- Khanh là ai mà lại biết trẫm?
- Bệ hạ không biết thần đâu. Hạ thần chính là em trai của võ tướng Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề trước linh cửu của anh là sẽ giết bệ hạ để báo thú. Biết bệ hạ lên núi này thần mai phục sẵn. Không ngờ đợi đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi, thần liền đi tìm... và bị chợt chân té xuống triền núi. Nếu không nhờ bệ hạ ra tay cứu chữa thì có lẽ thần đã mất mạng. Từ đây oan cừu xin giải hết... Thần cúi mong bệ hạ tha tội chết cho hạ thần.
- Câu chuyện đáng tiếc năm xưa đã làm ta hối tiếc khôn nguôi, nhưng việc đã dĩ lỡ rồi, trẫm không biết tính sao. Bây giờ chẳng những trẫm tha lỗi cho khanh, mà trẫm còn phục hồi chức tước và chu cấp cho gia đình Trần Ðoàn nữa. Khanh hãy yên tâm mà tịnh dưỡng đi.
Ðức vua ra hiệu gọi vệ sĩ đến, cho khiêng nạn nhân xuống núi và vời ngự y tới để chăm sóc vết thương. Sắp xếp đâu đó xong xuôi, vua đi tìm đạo sĩ. Nhà tu đang lúi húi trồng rau trên vạtn đất mới cuốc hôm qua. Ðức vua ngỏ ý cáo từ và lập lại ba câu hỏi::
- Xin đạo sĩ giải đáp cho...
Nhà tu mỉm cười:
- Bần đạo đã trả lời cho bệ hạ rồi đó. Ðức vua ngạc nhiên:
- Hồi nào đâu?
- Ngay lúc bệ hạ vừa nêu câu hỏi.
- ???
- Này nhé “thời gian nào là thời gian quan trọng nhất” đó là lúc bệ hạ cuốc đất giúp cho bần đạo, nếu thiếu khoảng thời gian này thì bệ hạ đã bị chết về tay anh chàng kia rồi nhé. “Nhân vật quan trọng nhất” chích là bần đạo đây, quan trọng đến nỗi bệ hạ phải trèo non lội suối đi tìm có phải không? Và câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất?” Thưa đó là cuốc đất, việc mà hai chúng ta đã làm ngày qua...
Rồi sau đó, khi chàng thanh niên xuất hiện, anh ta biến thành nhân vật quan trọng nhất, công việc cần thiết nhất là cấp cứu cho anh ta và thời gian cứu chữa là thời gian quan trọng nhất. Có phải thế không nào?
Nhà vua cúi đầu ngẫm nghĩ giây lâu, cất tiếng:
- Thưa đạo sĩ, trẫm đã hiểu. Thời gian quan trọng nhất là thời gian hiện tại. Nhân vật cần thiết nhất là người mà ta cần gặp gỡ trong hiện tại và công việc khẩn thiết nhất cũng là công việc trong hiện tại. Quá khứ là những điều đã qua rồi vĩnh viễn, vị lai chỉ là những ảo tưởng mơ hồ... chỉ có khoảng khắc ngắn ngủi trong hiện tại là giúp đỡ người chung quanh ngay trước mắt ta trong cái giây phút ngắn ngủi quý báu đó. Thưa có phải thế không ạ?
Ðạo sĩ mỉm cười và nụ cười đó thay lời tống biệt đưa nhà vua xuống núi, nơi mà triều đình và thần dân đang đón chờ ngài.
Em thân mến!
Hiện tại là cái khoảnh khắc ngắn ngủi mà chúng ta luôn luôn bỏ quên vì mãi lo hoài bão về tương lai, tiếc thương cho quá khứ, không ngờ nó lại là thời gian quan trọng nhất. Chư Tổ thiền tông cũng dạy chúng ta rằng:“Việc qua rồi chẳng nhớ
Việc chưa đến đừng lo
Việc hiện tại chớ đem lòng vọng tưởng.”
Lời dạy này cũng đồng nghĩa với câu giải đáp của đạo sĩ trên. Nếu chỉ sống với giây phút hiện tiền, thì dù ta đang gánh nước, bữa củi, uống trà, mặc áo, ăn cơm... tất cả những chuyện tầm thường nhất, không hành vi nào mà không phải là đạo.
Những điều thú vị của câu chuyện trên là lời giải đáp cho câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất.” Thưa đó là giúp đỡ những người chung quanh ta, cũng ngay trong hiện tại.
Trong cuộc sống hàng ngày mãi lo ngong ngóng đến tương lai, chúng ta thường bỏ quên hiện tại. Có lẽ vì mãi nghĩ đến những chúng sanh mà mình sẽ độ sau này (khi đã thành Phật hay Bồ tát chính hiệu), nên em không thấy được rá rau của người bạn tri nhật đang hối hả lặt cho kịp giờ cơm, quên luôn nền nhà đầy rác đang cần quét, chiếc ly uống nước đầy cáu bẩn v.v...
Tương lai đã che khuất em không thấy được những người bạn đồng tu của mình đang nhễ nhại mồ hôi, đầu tắt mặt tối vì công việc... và điều này khi nói ra e làm em bất bình, nhưng tôi xin chân thành xin lỗi em trước, cũng như tôi đã sám hối và ân hận mãi vì đã có một thời tôi và em, những người mãi miết lo nghĩ đến tương lai đã biến chuyện tu hành của mình thành một gánh nặng cho bè bạn. Và chúng ta đã đặt tên cho những hành động lạ lùng đó bằng các danh từ thật kêu như “hạ thủ công phu,” “giải quyết sinh tử,” “miên mật tu hành.” Hỡi ơi, nếu trong hiện tại chúng ta nhẫn tâm lợi dụng sức lao động của bạn bè mình, để làm bàn đạp tiến thân, tiến đến quả vị Phật tổ là những quả vị không còn dấu vết của bản ngã (và những phụ tùng của nó là tham, sân, si). Chúng ta thản nhiên nhắm mắt làm ngơ trước những công việc cần thiết cấp bách cho mình và cho người chung quanh để chỉ lo thực hiện cho kỳ được những hoài vọng do cái bản ngã đa sự của chính mình, với một lời hứa hẹn trấn an lương tâm là: “Chừng nào mình hoát nhiên đại ngộ hay thành Phật chẳng hạn, tôi sẽ độ cho quý vị hết trơn hết trọi.” Và chúng ta sẽ nhắn nhủ thầm rằng: “Còn bây giờ quý vị nên làm công quả cho tui, chuyện tu hành khó khăn lắm, cần phải có những căn cơ siêu việt mới có thể đảm đương được (như tui đây chẳng hạn)... chừng nào cuộc thí nghiệm của tôi thành công, công lao của quý vị sẽ được đền bù gấp trăm, gấp nghìn lần.”
Em thân mến!
Trong kinh Kim Cang, Ngài Tu Bồ Ðề có hỏi Phật rằng:
- Những người thiện nam hay thiện nữ khi đã phát tâm vô thượng bồ đề rồi thì làm sao hàng phục được tâm mình?
Ngài đã đại diện cho chúng ta nêu lên cái nguyện vọng, nỗi băn khoăn nghìn đời là “làm thế nào để con được thành Phật?” Câu trả lời của đấng đạo sư đã khiến ta bối rối hết sức:
- Con nên độ cho hết thảy chúng sinh vào vô dư niết bàn mà không thấy có một chúng sinh nào được diệt độ.
Câu đáp trở thành khó hiểu khi chúng ta ngỡ rằng “thành Phật tức là thành một đấng gì đó” cao hơn hết thảy chúng sinh, một “khối” gì đó... chẳng hạn. Còn nếu chúng ta chỉ hiểu một cách giản dị rằng: Phật chính là sự giác ngộ. Thành Phật tức là thành một chúng sinh giác ngộ - nhưng giác ngộ cái gì mới được chứ. Thưa, giác ngộ rằng “bản ngã” không thật bền, không có...
Nỗi bận tâm duy nhất và tha thiết nhất của chúng ta là cái bản ngã của chính mình. Từ lâu chúng ta mê mải tìm cầu ngũ dục cho nó hưởng thọ... Không ngờ cái dư vị của ngũ dục quá đắng cay khiến chúng ta đâm hoảng... Và thay vì say mê tham đắm ngũ dục, chúng ta lại xoay qua mê tu tham đắm niết bàn giải thoát. Ðối tượng có thay đổi, nhưng lòng tham lam tính toán vẫn còn đó... Ngày xưa chúng ta bon chen, thủ lợi, giành giựt ngũ dục ra sao thì bây giờ ta cũng tính toán để tóm cho bằng được Niết bàn hay quả vị Phật hệt như vậy.
Thế nên, nếu Ðức Phật đưa ra một đường lối, một phương pháp để đạt... Niết bàn thì chúng ta sẽ chịu lắm. Ta sẽ sẵn sàng hy sinh tất cả... để giật cho được cái Niết bàn lè lẹ kẻo thiên hạ phỏng tay trên hết. Vì thế câu trả lời của Ðức Từ phụ đã làm chúng ta chưng hửng và thất vọng biết bao! Hỏi làm cách nào để được giải thoát. Ngài lại bảo: “Hãy lo độ sanh đi, tức khắc tâm con được an, tâm an tức được giải thoát.”
Bàn về huyền nghĩa của kinh Kim Cang chúng ta có đến hằng khối kinh luận sớ và sao, giảng giải... Thế nên nơi đây tôi không dám bàn thêm. Tôi chỉ xin kể cho em nghe về chuyện thiền sư Triệu Châu, một Tổ sư Trung Hoa cũng có một câu đáp “lãng quẻ” tương tự.
Có một bà lão đến hỏi sư. “Già này mang thân đàn bà ô uế, bị đủ thứ ràng buộc... làm sao để thoát thân nữ?”
Sư đáp:
- Bà hãy phát tâm nguyện như thế này: Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thân tướng trang nghiêm của đại trượng phu, còn riêng thân tiện tỳ này thì vĩnh kiếp trầm luân nơi địa ngục.
Lão tử cũng có câu tương tự:
- Những ai muốn đứng trước thiên hạ thì hãy đặt mình đứng sau thiên hạ.
Và cũng có lẽ vì thế mà Ðại thừa Phật giáo đã không tiếc lời ca ngợi hạnh nguyện Bồ tát chăng? Xin mở một ngoặc đơn (chúng sanh: là người tìm đủ mọi cách để thỏa mãn tham vọng của riêng mình. Bồ tát: là người giác ngộ được chút đỉnh, nên dù vẫn thiết tha cầu Phật đạo mà vẫn không bỏ việc lợi sanh, nhưng Bồ tát không có phụng sự cho dục vọng của chúng sanh đâu nghen!) Em nghĩ sao? Ư nhữ ý vân hà? Nếu những lời lẽ trên đây có làm em khó chịu thì tôi xin cáo lỗi và xác định lại: Ðây chỉ là lời lải nhải, độc thoại tự nhủ của một người hơn là ngỏ cùng độc giả vậy.
Ni Sư Như Thủy
Người mang châu
Người Mang Châu
Xưa, tại một làng ven biên giới có xảy ra tại nạn binh đao. Dân chúng phải bồng bế nhau đi lánh nạn. Trong đoàn người di tản đó, có một thanh niên, con nhà giàu, của cải vô số. Anh mặc vào người đến ba bộ đồ, mang theo một túi da cùng bốn bao vải lớn chứa đầy ngọc ngà châu báu, ai thấy anh cũng bật cười. Một vài người tốt bụng khuyên:- Con đường mình đi tỵ nạn rất hoang vắng, trộm cướp nhiều như rươi. Anh mà mang hành lý cồng kềnh như thế này, tôi e lành ít dữ nhiều đa!
Anh chàng biện hộ:
- Ðây là tài sản của riêng tôi, chưa chắc ai có được, người đâu của đó, thà chết chứ tôi không bỏ lại được.
- Nào ai có bắt chú vứt bỏ đâu... Có điều mang đi ngờ ngờ thế này thì e rước họa vào thân đấy!
Giặc tan, mọi người lục tục kéo về tất cả đều đủ mặt, duy có anh chàng nhà giàu nọ thì không có ngày về. Anh đã bị cướp giết dọc đường.
Em thân mến!
Cõi đời mà chúng ta đang sống đây thuộc về dục giới, nghĩa là chúng sanh xem ngũ dục là của báu. Ðó là những món sắc, thinh, hương, vị, xúc làm đẹp ý vừa lòng thiên hạ. Chúng sanh thường chém giết nhau để tranh dành ngũ dục. Hàng tu sĩ chúng ta cũng giống như đoàn người di tản nọ. Thật là hiểm nguy cho kẻ nào trong bọn chúng mình còn đèo queo theo trong mình một ít tiền của, tài năng, danh tiếng hoặc sắc đẹp mà lại cố tình biểu diễn cho người khác thấy. Một tôn giả chúng sinh nào mà đã trông thấy “của báu” của chúng ta rồi thì sinh mạng của khổ chủ quả là như chỉ mành treo chuông... Hành giả khó mà vượt bể sinh tử được.
Ðức Phật đã không phải là không có thâm ý khi bảo tăng đồ nhà Phật phải sống bần hàn, vô sản và cạo quách đi mái tóc, ăn mặc xuềnh xoàng để “nếu còn một tí ti sắc đẹp nào cũng tèm lem hết.” Và thật là khó coi khi có vị tu sĩ nào cứ lo tô lục chuốt hồng bề ngoài, suốt ngày xăm soi, ve vuốt cái nhan diện của mình. Nó cũng chướng mắt hệt như ta bắt gặp các hình ảnh cồng kềnh của anh chàng nhà giàu trên đường chạy giặc trên. Riêng đối với các nhà hành giả nào không có lấy một tí ti tài sắc, xin quí vị cũng chớ lấy làm bi quan, mặc cảm, hờn duyên tủi phận... mà nên vui mừng vì con đường trở về rất là an toàn. Ðã lên đường đi thì thế nào cũng có ngày đáo bỉ ngạn 100% đấy, thưa chư hiền hữu.
Bồ Tát Và Chúng Sanh
Bồ Tát Và Chúng Sanh
Trời vừa dứt mưa, một bà cụ khoác áo tơi đi ra phố. Gặp một chú bé đang nghịch nước bẩn bên vệ đường, bà cau mặt quát:
- Thằng Cu! Mày có lên ngay không. Khiếp!
Thằng bé phản đối:
- Cháu xí cái vũng này từ hồi mới mưa lận. Bà kiếm cái khác đi, thiếu gì!
Em thân mến!
Bồ Tát là những vị sách vở định nghĩa là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” (Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh). Riêng chúng ta có thể hiểu một cách giản dị như thế này: “Nếu chúng ta tin rằng mình và tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ thì ta đã có mầm Bồ Tát trong lòng rồi. Trên đường tu chừng nào thành Phật hãy hay, còn hiện tại chúng ta hãy tùy thuận giúp đỡ người chung quanh bằng tất cả khả năng hạn hẹp của mình... Vì tin tưởng nơi Phật tánh của mình và người nên Bồ Tát không bao giờ mệt mỏi trên bước đường tự lợi, lợi tha...
Nhưng... tâm Bồ Tát thì khó phát nhưng rất dễ thối thất... Em có biết tại sao không? Em đừng tưởng là khi hành Bồ Tát hạnh đi đến đâu thiên hạ cũng rải hoa và trải chiếu bông đón tiếp mình hết đâu... mà coi chừng vỡ mộng đấy nhé! Như trường hợp của bà cụ trên đây chẳng hạn. Nếu các tôn giả chúng sanh đang ưa thích điều gì mà mình cản trở thì coi chừng họ có thể nghi là mình muốn đoạt cái sở thích ấy, trong trường hợp đó, nếu ta chưa đủ tài thuyết phục họ thì phải chạy cho thật lẹ kẻo... u đầu, nếu em có giúp đỡ ai điều gì thì... chớ nên hí hửng chờ người tuyên dương công trạng của mình vì có hàng khối kẻ bàng quan đang bĩu môi phẩm bình rằng:
“Ðồ ngu! Chuyên môn làm mọi thiên hạ.”
Hoặc là:
“Cái số cực...” “Cái nghiệp nặng”. Chà coi bộ em muốn thối tâm rồi phải không? Nếu mình là Bồ Tát thứ thiệt thì khỏi nói, đàng này thật kẹt cho hàng Bồ Tát sơ tâm như bọn mình, có lẽ vì thế mà trong các kinh, đức Phật đã không tiếc lời ca ngợi hạnh Bồ Tát, và Ngài cũng đã từng nhắc nhở với chúng ta rằng:
“ Muốn giảng kinh Pháp Hoa, tức là đi gieo rắc niềm tin rằng “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”, Pháp sư phải ngồi tòa Như Lai, mặc áo Như Lai, tòa Như Lai là tâm từ bi, áo Như Lai là giáp nhu hòa nhẫn nhục đó em ơi!
- Thằng Cu! Mày có lên ngay không. Khiếp!
Thằng bé phản đối:
- Cháu xí cái vũng này từ hồi mới mưa lận. Bà kiếm cái khác đi, thiếu gì!
Em thân mến!
Bồ Tát là những vị sách vở định nghĩa là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” (Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh). Riêng chúng ta có thể hiểu một cách giản dị như thế này: “Nếu chúng ta tin rằng mình và tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ thì ta đã có mầm Bồ Tát trong lòng rồi. Trên đường tu chừng nào thành Phật hãy hay, còn hiện tại chúng ta hãy tùy thuận giúp đỡ người chung quanh bằng tất cả khả năng hạn hẹp của mình... Vì tin tưởng nơi Phật tánh của mình và người nên Bồ Tát không bao giờ mệt mỏi trên bước đường tự lợi, lợi tha...
Nhưng... tâm Bồ Tát thì khó phát nhưng rất dễ thối thất... Em có biết tại sao không? Em đừng tưởng là khi hành Bồ Tát hạnh đi đến đâu thiên hạ cũng rải hoa và trải chiếu bông đón tiếp mình hết đâu... mà coi chừng vỡ mộng đấy nhé! Như trường hợp của bà cụ trên đây chẳng hạn. Nếu các tôn giả chúng sanh đang ưa thích điều gì mà mình cản trở thì coi chừng họ có thể nghi là mình muốn đoạt cái sở thích ấy, trong trường hợp đó, nếu ta chưa đủ tài thuyết phục họ thì phải chạy cho thật lẹ kẻo... u đầu, nếu em có giúp đỡ ai điều gì thì... chớ nên hí hửng chờ người tuyên dương công trạng của mình vì có hàng khối kẻ bàng quan đang bĩu môi phẩm bình rằng:
“Ðồ ngu! Chuyên môn làm mọi thiên hạ.”
Hoặc là:
“Cái số cực...” “Cái nghiệp nặng”. Chà coi bộ em muốn thối tâm rồi phải không? Nếu mình là Bồ Tát thứ thiệt thì khỏi nói, đàng này thật kẹt cho hàng Bồ Tát sơ tâm như bọn mình, có lẽ vì thế mà trong các kinh, đức Phật đã không tiếc lời ca ngợi hạnh Bồ Tát, và Ngài cũng đã từng nhắc nhở với chúng ta rằng:
“ Muốn giảng kinh Pháp Hoa, tức là đi gieo rắc niềm tin rằng “Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”, Pháp sư phải ngồi tòa Như Lai, mặc áo Như Lai, tòa Như Lai là tâm từ bi, áo Như Lai là giáp nhu hòa nhẫn nhục đó em ơi!
Phật Của Ngoại
Bé đi chùa về chào ngoại, ngoại hỏi:
- Con đi chùa có gì hay kể cho ngoại nghe với!- Ngoại à! Thầy dạy con niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà, ngoại nhớ niệm nghe.
Bà ngoại ngần ngừ hồi lâu đáp:
- Xưa nay ngoại niệm Ðức Quán Thế Âm, bữa nay đổi niệm Ðức Di Ðà... Sao ngoại sợ ông Phật kia giận ngoại quá...!
PC: Ðiều này phải hỏi lại Ðức Quán Thế Âm mới rõ thực hư.
Bà Chủ Hiền Thục
Kasi là một nữ chủ được nhiều người ca tụng là hiền thục, nàng không bao giờ nói lớn tiếng hay cau mặt với bọn gia nhân trong nhà.Những lời đồn đãi về Kasi khiến cho Asy, một cô tớ gái đâm ra nghi ngờ, Asy nghĩ bụng: “Có thật là tiểu thơ của mình hiền thục hay không chứ? Hay là nhờ mình chu toàn bổn phận nên tiểu thơ không có dịp lộ vẻ bất bình, điều này phải trắc nghiệm lại mới được.” Và Asy liền tìm cách thử nữ chủ.
Một hôm Asy cố tình thức dậy muộn, cô bé thấy nữ chủ cau mày khi cô dâng bữa điểm tâm. Sáng hôm sau, Asy lại dậy muộn, nữ chủ của cô vừa cau mày, vừa quát mắng ầm ĩ.
Sáng hôm sau nữa, Asy lại dậy muộn, còn đang nằm nán trên giường thì cô bé đã thấy nữ chủ chưa kịp chải tóc, nghiến răng, trợn mắt, vào tận giường lôi cô dậy. Sáng ngày thứ tư, Asy lại dậy trễ, lần này cuộc trắc nghiệm lại thành công mỹ mãn: nữ chủ đã vớ lấy cây cài cửa... và cô bé Asy ôm chiếc đầu chảy máu, chạy thẳng ra khỏi nhà la khóc ầm ĩ:
- Ối làng nước ơi! Xem đây. Xem đây! Hãy xem nữ chủ rất hiền thục đánh tôi đây này...
Em thân mến!
Trong Trung Bộ Kinh, đức Phật đã kể lại câu chuyện trên cho các thầy tỳ kheo nghe, và Ngài kết luận:
- Này các tỳ kheo! Như Lai không gọi một vị tỳ kheo nào là dễ nói, dễ dạy, tu hành đắc lực khi vị ấy còn nhận được đầy đủ tứ sự cúng dường (quần áo, thực phẩm, thuốc men, mền mùng). Nếu nữ chủ Kasi phải thử thách qua bốn lần mới chứng tỏ được mức độ hiền thục của cô ta, thì một thầy tỳ kheo đệ tử của Như Lai, phải được thử thách khi chịu đựng sự thiếu thốn của những nhu cầu cần thiết, mà vẫn không sờn lòng nản chí thì Như Lai và các bạn đồng phạm hạnh của vị ấy mới có thể kết luận rằng: “Ðây là một vị tỳ kheo phạm hạnh thanh tịnh dễ dạy, dễ nói... đã xuất gia vì sự giải thoát cho mình, cho người chứ không phải vì cơm ăn áo mặc.”
Em thân mến!
Bọn chúng ta trong cảnh sống hiện tại đầy đủ hơn người xưa rất nhiều, chúng ta chưa đến nỗi thiếu thốn vì cơm ăn, áo mặc, thuốc men, mền mùng... nhưng không vì thế mà cuộc sống của chúng ta hạnh phúc hơn, tâm tư được thoải mái hơn các vị tỳ kheo thời trước. Nếu em không tỉnh giác kịp thời thì, một cơn bệnh dai dẳng, một lời nói trái tai, một chuyện bất như ý, vẫn có đầy đủ mãnh lực biến chúng ta từ một tu sĩ dễ dạy, dễ nói, dễ thương... thành một nhân vật không giống ai hết, có giống chăng là giống nữ chủ Kasi thôi. Có phải thế không nào?...
Phật Ở Ðâu
Phật Ở Ðâu
Thuở
xưa có anh chàng đọc kinh, nghe nói về Phật thích lắm, nhất định đi tìm
cho gặp Ngài mới nghe. Anh chàng khăn gói quả mướp ra đi. Sau khi trải
qua không biết cơ man nào là núi sông, hầm hố, gian nguy hiểm trở...
chàng vẫn chưa được gặp Phật giống như hình dáng trong kinh đã diễn tả:
“Thân Phật sắc vàng, cao một trượng sáu, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp
hào quang sáng chói.”
Hôm nọ tại một triền non, chàng trai tình cờ gặp một cụ già râu tóc bạc phơ cốt cách siêu phàm. Mừng quá chàng khẩn khoản:
- Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không? Xin chỉ dùm con với.
Ông lão mỉm cười:
- Ồ, chỗ nào mà không có Phật? Trên quảng đường vừa qua chả lẽ con không gặp được Ngài.
- Thưa cụ trên đường đi con đã từng gặp vô số người, nhưng đều là hạng phàm phu tục tử cả... con chưa từng thấy người nào có được vài tướng tốt như trong kinh đã mô tả về Phật cả.
Ông cụ cười ha hả:
- Chú mày ngốc nghếch thật! Chú không biết rằng cái thân đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp đó, dân Ấn đã đốt thành tro và chia nhau xây tháp thờ cúng cả rồi ư?
- Thưa thế thì Phật chết rồi sao?
- Hiện giờ đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi. Ngài cũng mang thân tồi và xấu như chúng sanh vậy. Con còn có muốn gặp Ngài nữa không?
- Thưa dù với bất cứ hình dạng nào, nếu đích thực là Ngài thì con vẫn vô cùng khác ngưỡng.
- Vậy thì để ta mách nước cho con nhé... Con hãy quay về... Trên đường về, nếu gặp một người nào mang guốc trái ở chân phải, guốc phải ở chân trái thì chính người đó là một hóa thân của Phật. Hãy thừa sự và cúng dường vị Phật ấy như trong kinh đã dạy...
Chàng trai hối hả quay về, suốt quãng đường dài chàng không gặp đức Phật nào mang hình dáng như cụ già diễn tả. Chán nãn chàng quay về nhà. Trời đã khuya, bà mẹ còn chong đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa bà mừng quá, tụt xuống phản quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy tất tả ra mở cửa. Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang lộn chiếc guốc trái qua chân mặt, guốc mặt sang chân trái. Chàng ôm chầm lấy mẹ nghẹn ngào:
- Ôi! Ðức Phật yêu quý của con.
Em thân mến!
Trong kinh Phật có dạy: “Gặp thời không có Phật thì hai vị Phật đáng tôn thờ là cha và mẹ của mình, phải cung kính và thờ phụng hai vị này như tôn thờ đức Phật Thích Ca và Di Lặc vậy.” Ðó là lời dạy cho hàng Phật tử tại gia.
Riêng chúng ta hàng xuất gia đã lìa bỏ cha mẹ của xác thân này và để thừa sự cúng dường tất cả chúng sanh là những cha cùng mẹ trong vô lượng kiếp của mình.
Ngày xưa, trong hàng môn đồ của Ðại sư Trí Khải - một danh tăng đời Ðường – có một vị sư nhớ nhung cha mẹ, bèn bày tỏ cùng Ngài. Ðại sư dạy:
- Là người xuất gia ông chớ nên vì cha mẹ một đời mà xao nhãng bổn phận đối với cha mẹ nhiều đời, là tất cả chúng sanh đó vậy.
Câu chuyện anh chàng đi tìm Phật trên đây do người Trung Hoa đặt ra để nhắc nhở về chữ hiếu và bổn phận làm con. Nhưng qua câu chuyện này, em có thấy rõ chỗ oái oăm của nó là chúng ta bôn ba đi tìm Phật khắp nơi, trong khi Ngài ở kề cận bên mình mà chẳng hay. Vì thế mà có lẽ khi tăng Huệ Hải hỏi Mã Tổ về Phật, Mã Tổ đáp:
- “Hệt kẻ cỡi trâu đi tìm trâu” Em có thấy như thế không?
Hôm nọ tại một triền non, chàng trai tình cờ gặp một cụ già râu tóc bạc phơ cốt cách siêu phàm. Mừng quá chàng khẩn khoản:
- Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không? Xin chỉ dùm con với.
Ông lão mỉm cười:
- Ồ, chỗ nào mà không có Phật? Trên quảng đường vừa qua chả lẽ con không gặp được Ngài.
- Thưa cụ trên đường đi con đã từng gặp vô số người, nhưng đều là hạng phàm phu tục tử cả... con chưa từng thấy người nào có được vài tướng tốt như trong kinh đã mô tả về Phật cả.
Ông cụ cười ha hả:
- Chú mày ngốc nghếch thật! Chú không biết rằng cái thân đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp đó, dân Ấn đã đốt thành tro và chia nhau xây tháp thờ cúng cả rồi ư?
- Thưa thế thì Phật chết rồi sao?
- Hiện giờ đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi. Ngài cũng mang thân tồi và xấu như chúng sanh vậy. Con còn có muốn gặp Ngài nữa không?
- Thưa dù với bất cứ hình dạng nào, nếu đích thực là Ngài thì con vẫn vô cùng khác ngưỡng.
- Vậy thì để ta mách nước cho con nhé... Con hãy quay về... Trên đường về, nếu gặp một người nào mang guốc trái ở chân phải, guốc phải ở chân trái thì chính người đó là một hóa thân của Phật. Hãy thừa sự và cúng dường vị Phật ấy như trong kinh đã dạy...
Chàng trai hối hả quay về, suốt quãng đường dài chàng không gặp đức Phật nào mang hình dáng như cụ già diễn tả. Chán nãn chàng quay về nhà. Trời đã khuya, bà mẹ còn chong đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa bà mừng quá, tụt xuống phản quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy tất tả ra mở cửa. Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang lộn chiếc guốc trái qua chân mặt, guốc mặt sang chân trái. Chàng ôm chầm lấy mẹ nghẹn ngào:
- Ôi! Ðức Phật yêu quý của con.
Em thân mến!
Trong kinh Phật có dạy: “Gặp thời không có Phật thì hai vị Phật đáng tôn thờ là cha và mẹ của mình, phải cung kính và thờ phụng hai vị này như tôn thờ đức Phật Thích Ca và Di Lặc vậy.” Ðó là lời dạy cho hàng Phật tử tại gia.
Riêng chúng ta hàng xuất gia đã lìa bỏ cha mẹ của xác thân này và để thừa sự cúng dường tất cả chúng sanh là những cha cùng mẹ trong vô lượng kiếp của mình.
Ngày xưa, trong hàng môn đồ của Ðại sư Trí Khải - một danh tăng đời Ðường – có một vị sư nhớ nhung cha mẹ, bèn bày tỏ cùng Ngài. Ðại sư dạy:
- Là người xuất gia ông chớ nên vì cha mẹ một đời mà xao nhãng bổn phận đối với cha mẹ nhiều đời, là tất cả chúng sanh đó vậy.
Câu chuyện anh chàng đi tìm Phật trên đây do người Trung Hoa đặt ra để nhắc nhở về chữ hiếu và bổn phận làm con. Nhưng qua câu chuyện này, em có thấy rõ chỗ oái oăm của nó là chúng ta bôn ba đi tìm Phật khắp nơi, trong khi Ngài ở kề cận bên mình mà chẳng hay. Vì thế mà có lẽ khi tăng Huệ Hải hỏi Mã Tổ về Phật, Mã Tổ đáp:
- “Hệt kẻ cỡi trâu đi tìm trâu” Em có thấy như thế không?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


